We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 29 April 2017

Viết cho Ngày Quốc Hận: Hãy Trân Trọng Ngày Quốc Hận!



đ
ôi lời tâm tình

Từ 37 năm nay, từ 11 giờ sáng của ngày 6/6 năm 1980, từ ngày đáp xuống phi trường Orly, trong chuyến bay Air France lần cuối của đời một người mang quốc tịch Việt Nam Cộng Hòa, nay đã biến thành một người Vô Quốc Tịch, một người Vô Tổ Quốc – Apatride vào chẳng bao lâu mang quốc tịch Pháp. Ngày hôm trước, chúng tôi rời Tân Sơn Nhứt trong một không khí buồn tẻ, nhục nhằn của một người bị trục xuất, từ nay mất nhà, mất đất, mất quê hương, vĩnh viễn sẽ không gặp lại cha mẹ nữa. Chúng tôi đành rời bỏ cái phi trường của thành phố nơi chôn nhau cắt rún, từ năm năm nay đã bị xóa tên. Vĩnh viễn rời bỏ, cái phi trường lớn nhứt của một cựu thủ đô của cựu nước Việt Nam Tự Do thân yêu! Giã từ, Adios, thôi không trở lại nữa!
Mừng, mừng, tùi tủi, ngỡ ngỡ, ngàng ngàng, gặp lại cô vợ, gặp lại thằng con sau 5 năm gởi người nuôi nấng. Và cũng kể từ ngày đó, chúng tôi nguyện suốt đời tỵ nạn, lưu vong của chúng tôi, gia đình chúng tôi PHẢI luôn luôn giữ những tập tục truyền thống văn hóa Việt Nam. Chẳng những giữ lễ nghĩa của Ba Ngày Tết, để thờ cúng Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ. Chúng tôi, từ nay, PHẢI giữ thêm cái tưởng vọng các anh linh các chiến hữu quân dân cán chánh của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ. Tóm lại, vì Chinh Nghĩa!
Tuần cuối cùng của mỗi Tháng Tư Đen, từ năm 1981 đến nay, gia đình chúng tôi ăn chay. Ăn chay là ăn toàn rau xanh, không thịt cá thế thôi - không màu mè tương chao, đậu hủ, giả cầy, giả cá gì cả! Ăn qua loa để nhớ cái gốc lưu vong, cái gốc gác của đời tỵ nạn. Ăn chay – nói theo quan niệm riêng của chúng tôi dạy cho con cháu – là ăn qua loa, ăn để mà sống. Cơm khoai, bánh mì, rau xanh xà-lách, trái cây … tóm lại, nói theo Tây là ăn carême, ăn végétarien.
Gia đình chúng tôi cố giữ phong tục một gia đình ly hương để không quên quê hương nguồn gốc. Giữ truyền thống, phong tục. Trong nhà chúng tôi cố giữ cái Đạo Việt, vì chúng tôi đi Đạo Cơ Đốc nên không có bàn thờ hình Chúa hay Thánh Giá, nhưng lập và thắp sáng cái Bàn thờ Tổ Tiên. Riêng tuần Quốc Hận, thắp sáng bàn thờ Tổ Quốc, tưởng niệm các tử sĩ bỏ mình cho Tự Do!
Đối với chúng tôi, Tôn giáo, Đức Tin phần tâm linh là của mỗi cá nhơn. Tuy là Giáo Sĩ trách nhiệm mục vụ tại một Hội Đoàn Giáo dân vùng, chúng tôi không làm phép rửa tội bốn đứa con chung tôi, chúng tôi đã giáo dục truyền giảng giáo lý Cơ đốc giáo cho các con, nhưng để các con hoàn toàn lựa chọn Tôn Giáo và Đức Tin khi trưởng thành và biết trách nhiệm lựa chọn con đường tâm linh của mình! Tôn Giáo thường gọi là Đạo, (con đường giữ người) là cá nhơn. Cá nhơn chúng tôi, có Đức Tin và phần tâm linh là Cơ Đốc Giáo, tập tục lễ nghĩa theo hệ thống Nhà thờ Liên Hiệp Tin Lành Luther và Cải Cách. Nhưng truyền thống gia đình chúng tôi, là văn hóa lễ nghĩa chung của nguồn gốc cộng đồng người Việt và người Pháp. Vì ở Pháp, vì nửa gia đình gốc Pháp, gia đình chúng tôi cố giữ truyền thống đất nước Việt Nam làm nguồn gốc chung, chúng tôi chọn là Đạo(Con đường xử thế) Việt. Vì lẽ ấy Bàn Thờ Tổ Tiên phải có. Bàn thờ Tổ Tiên họ PHAN để nhớ nguồn gốc, thờ phượng Cha mẹ, Tổ Tiên, Đất Nước, Đồng Bào!
Hằng năm hai lần, trong gia đình chúng tôi, Bàn Thờ Tổ Tiên được thắp sáng.
Lần đầu, từ ngày 15 tháng 12 dương lịch là ngày mất của Cha chúng tôi, từ nay là Ngày Hiệp Kỵ dòng họ Gia đình họ PHAN chúng tôi, gốc Thừa Thiên-Huế, làng Mậu Tài-Phú Vang, đến ngày mồng 10 tháng giêng âm lịch, ra Tết.
Lần thứ hai là thắp sáng từ ngày 30 tháng ba là Ngày Huế thất thủ – quê quán gốc của dòng họ Phan – đến ngày 30 tháng tư là Ngày Sài gòn thất thủ và đất nước tiêu tùng.
Một năm hai lần, một lần Vọng Nhớ Tổ tiên, Nguồn gốc, Cha mẹ – Ơn Đất Nước, Ơn Tổ Tiên. Một lần Nhớ Ngày Tang Dân tộc, Ơn Đất Nước Nghĩa Đồng Bào.  
Đó là Tứ Ơn: Đất Nước, Tổ Tiên, Đồng Bào và Trời Đất-Tôn Giáo.
Chúng tôi dạy con dạy cháu chúng tôi, truyền thống Việt Nam, giữ Tứ Ơn: Bốn Ơn Phước: Nhứt, Đất Nước Việt Nam, thứ đến Tổ Tiên Việt Nam, rồi đến Đồng Bào Việt Nam, còn Ơn cuối cùng, Ơn thứ tư là Ơn Tâm Linh-Tôn Giáo - Đức Tin tùy cá nhơn con cháu, Phật Chúa đều quý cả, kể cả Không Có Đức Tin Athéehay Không TinAgnostique - vì đó là Đạo, đó cũng là Đức, là Con đường xử thế, con đường giữ mình hằng ngày. Như vậy, Con người Việt gồm có Ba Ơn của Đạo Việt, và Đức Tin Tôn giáo cá nhơn để tu thân giữ mình.
1. Ngày Quốc Hận PHẢI là Biểu Tượng Của Người Quốc Gia:
Chúng ta, người Việt tỵ nạn Cộng sản từ trên 40 năm nay, sống đất người, hội nhập ít nhiều đất người, ngày nay sanh sống rải rác khắp nơi trên thế giới, tùy phong, tùy tục, nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, sống sao cho hợp cảnh, hợp tình, hợp với lòng người, sống sao cho phải đạo mình, đó thôi !  Có nơi có may mắn, tụ họp đông đủ được một cộng đồng, tạo lập được những nơi sanh hoạt giữ nề giữ nếp Việt, phong Việt, tục Việt,  Việt văn, Việt hóa. Nhưng cũng có vài nơi  xa xôi, vắng vẻ, nhưng nhờ đất lành chim đậu, vẫn dễ dàng để người Việt chúng ta sanh sống, sanh con đẻ cái.
https://ec.yimg.com/ec?url=http%3A%2F%2Fsaigontimesusa.com%2Fbai%2Ftrangdau%2Fimages%2F1342_tuongniem.jpg&t=1493505377&sig=a2S7QJaWLHDmaSFN9QdNZg--~C
Sinh hoạt hằng ngày có vẻ như người bản xứ nhưng về nhà vẫn cố  giữ tục, giữ hồn người Việt. Hồn Người Việt là Tứ Ơn. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã truyền dạy Giáo dân Phật Giáo Hòa Hảo. Chúng tôi tuy Tôn giáo Tin Lành, đọc Thánh Kinh, giữ lời Chúa, nhưng rất ngưỡng mộ lời dạy Đức Thầy, lấy Tứ Ơn làm kim chỉ nam giữ Đạo Việt, giữ hồn người Việt. Lời Chúa là Tâm Linh giữ Đạo, giữ Đức. Tôn giáo là Đức Tin, là lòng dạ cá nhơn, là lương tâm cá thể chỉ là một trong Tứ Ơn. Ba Ơn còn lại Ơn Tổ Tiên-Cha mẹ, Ơn Đất Nước- Quê hương, Ơn Đồng Bào ấy là linh hồn Việt.
Chúng tôi thường ngưỡng mộ hai dân tộc và cách sống của họ:
Thứ nhứt là dân tộc NHỰT BỔN, ngày ra đường họ mặc âu phục làm việc, tổ chức làm việc rất Âu Mỹ. Tối về nhà, trong gia đình họ là người Nhựt, kimono, ngủ sàn. Dù Đạo Phật hay Đạo Chúa, nhưng vẫn thờ vái, cúng bái, tin tưởng những Kami, tổ tiên truyền thống…Sinh hoạt văn minh Âu Tây, nhưng linh hồn, văn hóa thì vẫn Nhựt Bổn.
Dân tộc thứ hai là dân DO THÁI. Đạo Do Thái, có từ ngàn xưa, Thờ Chúa, Đấng Yê–Hô–Vah, giữ Đạo theo lời Chúa, nhưng có những tục lệ nề nếp để nhớ Ơn Xưa. Ngày nay dù 70 năm đã qua, người Do Thái vẫn hằng năm tưởng niệmShoah Holocaust về những người Do Thái Âu Châu từng bị Nazi Đức sát hại.
Vì vậy ta phải trân quý Ngày quốc Hận như người Do Thái trân quý Shoah vậy!
2. Phải Trân Quý Lá Cờ Vàng Ba Sọc Chữ Càn:
https://ec.yimg.com/ec?url=http%3A%2F%2Fnamviet.net%2Fblog-thoisu%2Fwp-content%2Fuploads%2F2015%2F05%2F212ddc23-663d-447b-bc5a-c66a540a93ce.jpeg&t=1493505377&sig=MoSLTywNpCnq39UKnnmEvw--~C
Chúng ta phải trân quý BA SỌC SONG SONG màu Đỏ - Chữ CÀN Đỏ như người Do Thái đã trân quý Ngôi Sao David của họ vậy! Ba Sọc Song Song - chữ Càn trong Kinh Dịch cũng là tượng trưng Tam Tài Thiên-Địa-Nhơn,
Vì chữ CÀN (ba sọc song song) chỉ hướng ĐÔNG. Từ naythoát khỏi cái suy nghĩ NAM. Hướng Nam, để đối với hướng Bắc, là một quan niệm, có từ thời Hán Thuộc lần thứ Nhứt, phía Nam của một vùng ảnh hưởng Triều đình Hán nằm ở hướng Bắc – Beijing, BẮC kinh. Nam cũng đến từ tên nước NAM Việt từ Triệu Đà cướp nước Âu Lạc của An Dương Vương. Thăng Long thủ đô của nước Đại Việt, cũng được gọi là Đông Kinh (Do đó các thủy thủ Pháp đặt vùng miền Bắc là TONKIN do từ ĐôngKinh trại ra!
Trước Nam Việt tên nước ta là Văn Lang, là Âu Lạc… Sau Nam Việt, tên nước là Đại Cồ Việt, là Đại Việt… dù anh hùng Lý Thướng Kiệt đã dùng chữ Nam để phân biệt Nam Bắc. Tên Việt Nam ngày nay của ta cũng do Nhà Thanh đề nghị với Vua Gia Long. Vua Minh Mạng quá HÈN NHÁT, lại đổi thành ĐẠI NAM, vì quá sợ rằng tên VIỆT sẽ làm Mất lòng Vua Tàu chăng?
3. Ngày Quốc Hận, NGÀY GIỖ Các Anh Hùng Bỏ Mình Vì Tự Do:
Đối với người Việt Nam chúng ta, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, đồng nghĩa với Shoah Do thái! Thế mà có người – tuy là cựu nạn nhân – vẫn đòi bỏ lên bỏ xuống! Thay tên, vì mắc cở? Thay tên, vì hòa hợp, bán nước?
Ngày mai, chế độ độc tài Công sản thế nào cũng phải bị thay thế, phải nhường quyền cho một chế độ Dân Chủ Pháp Trị. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn mong ước rằng:
Ngày Quốc Hận cũng phải được duy trì và trân trọng. Dù rằng trong Nước, tuy không còn bóng dáng bọn Cộng Sản Bán Nước nữa. Nhưng một Công Trường, một Tượng Đài kỷ niệm Ngày Quốc Hận phải được Dựng lên để Tưởng Niệm. Để Nhớ Ơn Tất Cả những người Đã LỰA CHỌN: HY SANH Vì Chánh Nghĩa, Đã Nằm Xuống Vì Nghĩa Vu Bảo Vệ Non Sông, hay đã HY SINH Bỏ Mình Trên Con Đường Đi Tìm Tự Do.
Ngày Tang, ngày Đau, ngày Buồn ấy, sẽ là Ngày Giỗ Tổng hợp cho những cái đau thương của đất nước. Ngày Hiệp Kỵ, Hiệp Giỗ, cho tất cả những nạn nhơn của tất cả những cái tang tóc đau buồn đã qua:  Cải cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế, Hoàng Sa, Trường Sa, các nạn nhơn của những cuộc pháo kích bừa bãi của Việt Cộng, những nạn nhơn đã bỏ mình, nạn nhơn của những cuộc chạy nạn, trong nước: đại lộ kinh hoàng năm 72, đường 19 năm 75, nạn nhơn của cuộc vượt biên khổng lồ  trên biển hay trên đường biên giới, nạn nhơn của những trại tập trung sau ngày mất nước, hay nạn nhơn của cả cuộc chiến Việt Cộng-Tàu Cộng  năm 1979… để Nhớ, để không Bao giờ Quên, để không Bao giờ Lặp lại. Tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư để hằng năm Xá Tội Vong Nhơn, Tha Tội Lẫn Nhau.
Kết Luận 
Nhìn lại, trên 40 năm cầm quyền cả nước thống nhứt trong Hòa Bình, Đảng Việt Cộng đáng lý phải Xây Dựng và Phát Triển đất nước, nhưng chỉ biết Trị dân và Bán Nước.    
Chừng nào còn Đảng Việt Cộng, thì người Việt vẫn còn nô lệ. Muốn Phát triển và XâyDựng, phải có Tự Do Độc Lập, Dân Chủ. Muốn có Tự do, Độc lập, Dân chủ phải Thoát Cộng!
Tất cả những vấn nạn hiện tại hay tương lai, như Hán Hóa, như mất hải đảo, mất Biển Đông đều do Đảng Công sản Hà nội cầm quyền tạo thành.
Thoát Cộng sẽ giải quyết tất cả. Môt chế độ dựng lên bằng cướp chánh quyền, bằng tuyên truyền láo khoét, bằng giáo dục dỏm, bằng bằng cấp mua, bằng ngoại giao xin cho, thì phải dẹp bỏ. Dẹp bỏ xong cái chế độ ấy, người Việt Nam mới tìm thấy lại những sự thật.  
42 năm đủ rồi! Đã quá dài! Mong rằng tất cả người dân Việt thấy được sự thật để mà vứt bỏ mầm nguy hại nầy!
Mong lắm!
Hồi Nhơn Sơn, Ngày Quốc Hận thứ 43
TS.Phan Văn Song

Vô cùng thương tiếc nghệ sĩ Thanh Sang, hưởng thọ 75 tuổi.

Vô cùng thương tiếc nghệ sĩ Thanh Sang


Nghệ sĩ Thanh Sang đã trút hơi thở cuối cùng lúc 0 giờ 25 phút ngày 21/4/2017 tại nhà riêng, hưởng thọ 75 tuổi.
Ngày 4/4, anh bị khó thở, được gia đình đưa đi cấp cứu. Sau nhiều ngày điều trị tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, vì anh có bệnh suy thận, suy tim, xuất huyết não nên bị hôn mê và mất đi trong niềm thương tiếc của gia đình, nghệ sĩ đồng nghiệp và khán giả ái mộ cải lương.
Nghệ sĩ Thanh Sang tên thật là Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại Phước Hải, Bà Ria – Vũng Tàu. Cha Mẹ của Thu là người quê ở Bình Định, làm nghề ngư phủ. Hai ông bà từng đi đánh cá khắp các vùng biển Quy Nhơn, Bình Định, Tuy Hòa, Nha Trang, Rạch Giá, Cà Mau. Hai ông bà chọn Phước Hải để định cư vì có nhiều bạn đồng hương Bình Định đến đây lập nghiệp. Bốn chị em của Thu đều được sanh ra tại Phước Hải.
Cha của Thu mất năm 1949 khi Thu mới 7 tuổi. Người chị thứ hai 10 tuổi phải đi bán khoai lang, chuối nấu để để kiếm tiền giúp mẹ nuôi em. Thu tuy mới 7 tuổi cũng phải đi làm mướn cho ông chủ ghe cá, phụ việc khoanh chạc, tát nước, gỡ cá khi ghe đi đánh cá ở biển về.
Khi làm việc chung ở đoàn Dạ Lý Hương, Thanh Sang kể lại khoảng đời thơ ấu cho chúng tôi nghe trong dịp nhậu trong quán rượu bên hông rạp Quốc Thanh. Thanh Sang kể là hồi 8 tuổi anh đã theo ghe đánh cá đi biển. Lúc 14 tuổi, Thu theo ghe đi biển, bị một trận bão dữ dội, nhiều ghe trong đoàn đánh cá bị chìm, ghe của Thu thoát nạn. Khi Thu vô đến bãi thì thấy mẹ và các chị em của Thu đang quỳ nơi bãi biển, cầu nguyện cho Thu thoát nạn. Thu ôm mẹ, hai mẹ con ôm nhau mà khóc khiến cho cả xóm xúc động. Bà mẹ không muốn con theo ghe cá ra biển nữa nhưng rồi vì nghèo quá, đành phó cho số trời.
Ông chủ ghe cá rất thích Thu, vì cậu siêng năng, làm việc cực nhọc không kêu ca, không nề hà gì, lại làm mồi nhậu rất ngon nên ông không cho Thu đi biển theo ghe cá nữa mà giao cho việc vá lưới, đan lưới, khi nào ghe đi biển về thì Thu phụ cân cá, khiêng cá ra chợ rồi rửa ghe và phơi lưới. Ông cho mẹ con của Thu mướn ngôi nhà nhỏ ở sau rạp hát Hải Lạc – Phước Hải. Nhờ vậy khi có đoàn cải lương nào về hát ở rạp Hải Lạc, Thu ngồi trong nhà cũng nghe được tiếng đờn câu ca. Nghe hát cải lương riết rồi đâm ra ghiền, mê vọng cổ. Thu làm quen với các nghệ sĩ, hễ có tiệc nhậu thì thế nào Thu cũng kiếm rượu đế ngon, nấu vài món cá, tới góp phần và ca vọng cổ chung vui với anh em trong gánh hát. Làn hơi của Thu trầm ấm, vang lộng, Thu học ca theo dĩa vọng cổ của các danh ca Út Trà Ôn, Thành Công, Chín Sớm và được các bạn đờn ca tài tử Phước Hải dạy ca theo đúng nhịp điệu.
Năm 1960, đoàn cải lương Ngọc Kiều của ông bà bầu Hoàng Kinh – Ngọc Đán về hát ở rạp Hải Lạc. Trong một dịp đờn ca với các nghệ sĩ đoàn Ngọc Kiều, giọng ca của Thu được nữ nghệ sĩ Kim Nên chú ý. Cô Kim Nên thân mẫu của nghệ sĩ tân nhạc Thái Châu, là đào chánh của đoàn Ngọc Kiều, giới thiệu Thu với ông bầu Hoàng Kinh, xin cho Thu theo gánh hát để học hát, cô tin là Thu sẽ trở thành một kép chánh sớm nổi danh. Thu được nhận vô gánh hát và chỉ được cho đóng vai quân sĩ chạy hiệu và đánh võ trong tuồng. Thu cần cù, chịu khó học hỏi, đêm đêm Thu ngồi bên cánh gà coi hát và học thầm theo tuồng. Đoàn đang hát tuồng Chiều đông gió lạnh về, Thu thuộc được nhiều vai trong tuồng này. Khi các vai kép cạnh đau yếu không hát được, bầu gánh bảo Thu thế vai, suất hát thế vai của Thu thành công trọn vẹn. Bầu Hoàng Kinh mới đặt nghệ danh cho Thu. Ông nói: “Tên Thu nghe có vẻ con gái, mày ở lứa tuổi của những nghệ sĩ có giọng ca dũng mãnh như Thanh Kỳ, Thanh Liêm ở đoàn Phước Chung, như Thanh Tú ở đoàn Thanh Minh, như Thanh Nhàn, Thanh Sơn con của kép Thanh Tao ở đoàn Kim Thanh nên tao đặt cho mày nghệ danh là Thanh Sang.

Thu nhận cái tên mới Thanh Sang và được ông Bầu cho đóng các vai kép ba, kép nhì. Năm 1962, kép chánh Hùng Cường khi diễn trên sân khấu Kim Chung, không hài lòng cách diễn của anh hề Nguyễn Mỹ (con của danh hề Sáu Dình và nữ nghệ sĩ Năm Đặng đoàn Phước Chung), Hùng Cường đã đánh Nguyễn Mỹ gãy răng, chảy máu miệng và đạp cho Nguyễn Mỹ té xuống phòng khán giả.
Trước đó cũng ở sân khấu Kim Chung, Hùng Cường hát, ca rớt vọng cổ, anh đã xông vô dàn đờn cổ nhạc, đánh nhạc sĩ Văn Vĩ và đá bể đờn guitare và ampli của Văn Vĩ. Văn Vĩ vì đui, không nhìn được miệng ca của Hùng Cường nên không vớt khi anh rớt nhịp nhưng Hùng Cường cho là nhạc sĩ Văn Vĩ muốn đờn phá anh. Văn Vĩ thề không bao giờ đờn cho gánh hát cải lương nữa, anh đã giữ lời thề cho đến ngày anh mất.
Hồi đó Hội Ái Hữu nghệ sĩ đang hoạt động mạnh, các Hội Công Nhân sân khấu, Chi Hội Soạn giả, Hội Ký giả kịch trường vừa thành lập, Hội nào cũng muốn chứng tỏ khả năng bảo vệ quyền lợi của nghệ sĩ nên đăng báo vận động khán giả ủng hộ tiền để kiện Hùng Cường ra tòa và cho Nguyễn Mỹ đi bác sĩ lấy giấy chứng thương và trị bịnh. Nghệ sĩ Hùng Cường phải đi hầu tòa nhiều lần, anh phải rời đoàn Kim Chung để tránh làn sóng phản đối của báo chí kịch trường và khán giả. Anh theo đoàn Ngọc Kiều đi hát ở các tỉnh Hậu Giang nhưng phía Nguyễn Mỹ và các Hội nghệ sĩ (Công Nhân Sân Khấu, Chi Hội Soạn giả, Hội Ký giả kịch trường…) không chịu bãi nại nên Toà Án vẫn đưa trát đòi Hùng Cường đi hầu. Vì vắng mặt kép chánh Hùng Cường nhiều lần, bầu Hoàng Kinh tập cho Thanh Sang hát thế vai chánh của Hùng Cường, đó là vai Đông Nhật trong tuồng Tuyết Phủ Chiều Đông. Thanh Sang từ một vai kép ba, thế vai của Hùng Cường, trở thành kép chánh của đoàn hát. Ông bầu Hoàng Kinh lấy những vai hát kép chánh của Hùng Cường giao cho Thanh Sang thủ diễn, nâng vai trò của Thanh Sang lên kép chánh, ký contrat mới với Thanh Sang. Hùng Cường thối contrat cho bầu Kinh, trở về Saigon đi gánh hát khác, sau khi nhờ người vận động với cha mẹ Nguyễn Mỹ bãi nại, Hùng Cường bồi thường tiền thang thuốc cho Nguyễn Mỹ.

Nghệ sĩ Thanh Sang làm kép chánh qua ba gánh hát: Ngọc Kiều, Ngọc Kiều Mới, Song Kiều nhưng ba đoàn này chuyên hát ở Hậu Giang nên ít được báo chí kịch trường đề cập đến. Năm 1964, bầu Xuân thành lập đoàn Dạ Lý Hương, khai trương gánh hát với tuồng Cô Gái Đồ Long, danh ca Tấn Tài vào vai Trương Vô Kỵ, kép ca Út Hiền vai Trương Thúy Sơn, kép Thanh Sang vai Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, Ngọc Giàu vai Hân Tố Tố.
Hai nhân vật trẻ Trương Vô Kỵ và Trương Thúy Sơn được trao cho hai danh ca Tấn Tài và Út Hiền, hai vai này là mãnh đất màu mỡ cho hai danh ca Tấn Tài, Út Hiền thi thố giọng ca vàng và kỹ thuật luyến láy qua các bài vọng cổ trữ tình trong tuồng. Thanh Sang mới 20 tuổi mà phải thủ diễn một vai lão mù. Đôi mắt của diễn viên là một lợi khi sắt bén giúp cho diễn viên chinh phục khán giả, cái liếc mắt tống tình, liếc mắt căm hờn, ánh mắt nghi ngờ, đôi mắt ngạc nhiên, đôi mắt bối rối…đôi mắt diễn đạt nhanh hơn và hiệu quả hơn lời nói, lời ca. Diễn một nhân vật mù là đã mất hết lợi thế của đôi mắt nên rất khó diễn. Nhưng Thanh Sang lại diễn nhân vật Tạ Tốn rất hay và đạt được huy chương vàng Giải Thanh Tâm nhờ vai tuồng nầy.
Lớp diễn như sau: Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn cướp được thanh Đồ Long Đao, cùng với vợ chồng nghĩa đệ Trương Thúy Sơn, Hân Tố Tố đi biển Đông, định tìm một nơi yên tỉnh để nghiên cứu bí mật của Đồ Long Đao, không ngờ bị bão biễn, trôi dạt đến Băng Hỏa Đảo. Vì suy nghĩ hoài không tìm ra được bí mật Đồ Long Đao, lại nhớ đến mối thù vợ con bị Thành Khôn cưỡng hiếp rồi giết chết, khi nghĩ tới bí mật Đồ Long Đao không tìm ra được thì không thể nào trả được mối thù vợ con bị Thành Khôn giết, Tạ Tốn nổi cơn điên dữ dội, múa đao đâm chém loạn xạ… Trương Thúy Sơn bị thương nặng, chỉ còn chờ chết dưới đao của Tạ Tốn thì ngay giữa cơn nguy hiểm ngàn cân treo sợi tóc đó, Hân Tố Tố sanh ra một đứa hài nhi. Hài nhi kêu lên tiếng khóc chào đời, tiếng khóc trẻ thơ đánh thức lương tri của Tạ Tốn, khiến ông liên tưởng đến tiếng khóc của con ông, ông bình tĩnh dần dần, ý tưởng giết người tan đi, nhường cho tình thương dành cho trẻ sơ sinh. Lúc này Thanh Sang mới 20 tuổi, thủ diễn một vai lão mù, đầu tóc vàng hoe xù lên như một cái bờm sư tử, khi nổi cơn điên thì đâm chém loạn xạ, gầm thét dữ dội, thái độ bạo tàn nhưng khi nghe tiếng khóc của trẻ sơ sinh, Thanh Sang – Tạ Tốn khựng lại, ngơ ngác, lắng nghe, nghểng tai về hướng động đá, tiếng khóc lại vang lên… môi của Thanh Sang – Tạ Tốn hơi nhếch cười, run giọng nói: “Con tôi…phải tiếng của con tôi không?”

Thanh Sang Bach Tuyet
Cơn điên giận dữ qua mau như một trận bão tàn, nhường cho khoảng trời quang mây tạnh. Nở nụ cười trên môi, Ta Tốn bồng đứa trẻ thơ, ôm nó vào lòng, kêu lên trong một giọng đẫm lệ vì sung sướng… Con tôi…Con tôi đây rồi. Phải cho nó làm con nuôi của ta mới được…
Vở tuồng khai trương tại rạp Quốc Thanh, các vai Út Hiền – Trương Thúy Sơn, Tấn Tài – Trương Vô Kỵ chỉ thỏa mãn khán giả bằng mấy câu vọng cổ, nhưng lớp tuồng gây xúc động nhất, gieo ấn tượng sâu sắc vào lòng khán giả chính là lớp diễn của Thanh Sang – Tạ Tốn.
Chỉ sau bốn năm theo nghề hát, Thanh Sang, một chàng trai chài lưới, chưa qua trường lớp nào của sân khấu đã trở thành ngôi sao cải lương với cái huy chương vàng Giải Thanh Tâm năm 1964.
Trong cuộc đời nghệ thuật sân khấu, Thanh Sang đã để lại những vai diễn bất hủ, những nhân vật có tính cách khác thường nhưng rất sâu sắc về tâm lý, đòi hỏi phải diễn xuất nội tâm nhiều như trong tuồng Kiều Phong – A Tỷ, Bạch Tuyết trong vai A Tỷ, ngồi trên lưng Du Thản Chi (Thanh Sang), mỗi lần xuất hiện trên sân khấu, Du Thản Chi – Thanh Sang đầu bị bịt mặt sắt, lại cõng A Tỷ trên lưng, Thanh Sang diễn xuất tỏ thái độ yêu đương mù quáng, ngu khờ đối với A Tỷ, lúc nào cũng ngu khờ mù quáng nghe theo mệnh lệnh của trái tim nên khán giả vừa tức vừa thương cái gả si tình mù quáng. Một diễn viên mang mặt sắt, đầu bao che bằng một nón sắt, lại cõng người trên lưng, chỉ bằng giọng nói, giọng ca mà diễn, biểu lộ được một tấm chơn tình, không phải là một chuyện dễ làm.
Trong tuồng Tiếng Hạc Trong Trăng, Thanh Sang thủ diễn vai tướng cướp Thi Đằng, tự móc mắt mình để giúp cứu trị đôi mắt của đứa con gái của ông bị thất lạc từ 18 năm qua. Vai Thi Đằng khi mới dàn dựng thì do Thành Được thủ diễn, Thanh Nga trong vai cô gái mù. Sau Thành Được, vai Thi Đằng còn được các diễn viên Việt Hùng, Minh Vương, Hùng Minh và Thanh Sang thủ diễn… Theo báo kịch trường và dư luận khán giả thì sau Thành Được, Thanh Sang là người diễn xuất sắc nhứt, hơn các diễn viên tài danh đã được kể.
Sau năm 1975, Thanh Sang nổi bật qua các vai Thi Sách trong Tiếng Trống Mê Linh, vai Trần Minh trong Bên Cầu Dệt Lụa, vai Lê Hoàn trong Thái Hậu Dương Vân Nga, vai Thế Tử Ngũ Châu trong Đường Gươm Nguyên Bá.
Trong hoạt động nghệ thuật sân khấu, Thanh Sang được cảm tình sâu sắc của các bạn đồng diễn. Minh Vương, Hùng Minh, Phượng Liên, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Diệu Hiền… Thanh Sang rất quan tâm chỉ dẫn giúp đỡ các thế hệ diễn viên trẻ nhất là các em thủ diễn những vai có tính cách.
Giọng ca của Thanh Sang trầm ấm, có một nỗi buồn man mác, rất nhiều khán thính giả mê thích giọng ca lối hát của Thanh Sang.
Vì tôi xa quê hương trên ba chục năm, tôi không biết nhiều về việc gia đình vợ con của Thanh Sang, chỉ đọc báo hoặc nghe các bạn kể, Thanh Sang lận đận trong cuộc sống vợ chồng, qua 7 lần sống với 7 cô vợ. Họ chia tay nhau không ồn ào, không có ấn tượng xấu về nhau. Chỉ có người con gái của bà bầu gánh hát của Công Ty Cao Su Đồng Nai là người vợ chót, chăm sóc cho chồng nhiều nhứt những lần Thanh Sang lâm trọng bệnh.
Thanh Sang từng thủ diễn nhiều vai quan trọng trong tuồng của tôi khi tôi cộng tác với đoàn Dạ Lý Hương. Các nghệ sĩ Thanh Sang, Diệp Lang, Hùng Minh, Hương Huyền, Kim Tuyến, Giang Kim, Tú Trinh, Ngọc Đan Thanh, Kiều Phượng Loan, Thanh Thế, Linh Tuấn từng tỏ lời kính tôi như người cha trên đường nghệ thuật nên tôi lúc nào cũng thương mến các cháu như con của mình và xúc động về tinh thần tôn sư trọng đạo của các cháu.
Ở phương trời xa cách hàng chục ngàn cây số, khi biết tin Thanh Sang đau nặng rồi mất, tôì vô cùng thương tiếc, xin thắp nén nhang cầu nguyện cho anh linh của Thanh Sang sớm tiêu diêu miền cực lạc và xin chia sớt nỗi đau nầy với với gia đình và vợ con của Thanh Sang.
Montreal, tháng 4 năm 2017.
Soạn giả Nguyễn Phương


Bài Xem Nhiều