We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 5 May 2017

Cứ tới 30/04 lại nhắc chuyện Hòa Giải Hòa Hợp Dân tộc


Gần tới tháng tư, những người việt nam lớn tuổi, tức những người đã từng trải qua tháng tư năm 1975, đều nhớ lại biến cố mất Miền nam do Lê Duẩn, dựa vào sự yểm trợ tích cực của Trung cộng, cả quyết dùng chiến dịch biển người xua quân cưởng chiếm cho bằng được Miền nam. Khi dép râu dẩm lên Miền nam thì xã hội bắt đầu đảo lộn. Gia đình bắt đầu ly tán Nhà cửa, của cải của người dân lần lược trao qua tay kẻ chiến thắng để chuộc tội tư sản.

Có người hỏi về số phận những viên chức của Chánh quyền Sài gòn, Lê Duẩn trả lời bằng cử chỉ đưa bàn tay cứa ngang cổ. Võ văn Kiệt “nhơn từ” đề nghị cho đi tập trung cải tạo để khai thác sức lao động của họ phục vụ lợi ích xã hội chủ nghĩa cho tới kiệt sức sẽ thả ra về cho gia đình chăm sóc. Chết sống sẽ do khả năng sanh tồn trong cải tạo định đoạt.
Những người may mắn thoát được ra nước ngoài, với hai bàn tay trắng, bắt đầu làm lại cuộc đời. Gian khổ nhưng được tự do. Với họ, ngày 30/04 không gì khác hơn là kỷ niệm đau thương.

Ở lại hay ra đi, cả hai đều chỉ thấy mình là người dân bị mất nước, mất tất cả, chớ không ai thấy Miền nam được giải phóng, đất nước được thống nhứt. Trong những người cộng sản, có thể có triệu người vui thật sự vì có điều kiện chiếm đoạt tài sản của dân Miền nam làm giàu, còn trìệu người kia, có lương tâm trong sáng, khi vào thấy Miền nam không như họ hiểu do bị chế độ tuyên truyền, bắt đầu đau buồn, ân hận đã cống hiến mạng sống, tuổi trẻ sai lầm, thật hoang phí. Họ là nhũng kẻ đã trao thân nhằm tướng cướp.

Khi Hà nội áp đặt chánh sách xã hội chủ nghĩa cai trị Miền nam thì xã hội Miền nam ngày càng thêm tan nát, những giá trị xã hội, đạo đức bị bứng gốc và đảo ngược. Hệ quả là thực tế ngày nay ở Việt nam.





Thực tế sau 42 năm

Rồi sự phấn khởi chiến thắng cũng lần lần lắng dịu, nhà cầm quyền bắt đầu thấy chiến thắng chỉ có nghĩa là chiếm được Mìền nam, chỉ thống nhứt về mặt hành chánh, nhân tâm ngày càng phân tán, sự bất mản chế độ ngày càng thể hiện khắp nơi trong dân chúng. Hà nội bắt đầu thay đổi thái độ, đưa ra kêu gọi “Đại đoàn kết toàn dân”, ban hành chánh sách “Hòa hợp dân tộc”. Chủ trương của nhà cầm quyền cộng sản là “Hòa hợp dân tộc”. Họ chưa bao giờ nói “Hòa giải, Hòa hợp dân tộc”.

Ngay sau Hiệp định Paris năm 1973, Hà nội đã đưa ra đề nghị “Hội Đồng Hòa giải, Hòa hợp dân tộc” gổm ba thành phần để lo tổ chức tổng tuyển cử, tái lập hòa bình. Nhưng cái “Hội Đồng Hòa giải Hòa hợp dân tộc” kia chết chưa kịp khai tử vì họ đã dùng võ lực chiếm trọn Miền nam. Sau những năm “đổi mới”, họ thấy rỏ chỉ khi người dân nhìn nhận chánh quyền và hợp tác mới là quan trọng cho đất nước phát triển, nhứt là khối người Việt nam Hải ngoại vừa có khoa học kỷ thuật, vừa có vốn, nên nhà cầm quyền cộng sản quan tâm hơn đến vấn đề “Đại đoàn kết toàn dân”.

Nhưng sau 42 năm kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược, vấn đề hoà hợp hoà giải dân tộc được nhà nước Hà nội nhắc đến nhiều lần, trong các cuộc họp Đại hội đảng cộng sản, Hội Nghị Trung ương hay bất cứ nơi nào có những người cầm quyền phát biểu, nhưng thực tế vẩn chưa đạt dưọc kết quả mà họ mong đợi.

Sốt ruột, Hà nội ban hành
nào Nghị Quyết 36 ngày 26 tháng 03 năm 2004,
nào Nghị quyết 23 ngày 16 tháng 01 năm 2008,
những chương trình giao lưu họp mặt do Ủy Ban nhà nước về người Việt nam ở nước ngoài tổ chức để thúc đẩy thực hiện Hòa hợp dân tộc. Thế nhưng 42 năm dài vẩn chưa đủ để cho dân tộc có thể quên đi những tổn thương quá nặng nề do chánh sách cộng sản tạo ra và để lại.

Người cộng sản vẫn còn suy nghĩ ta/địch, cách mạng/ngụy. Họ kêu gọi hòa hợp dân tộc, chớ chưa bao giờ họ nói “Hòa giải” bởi họ cho rằng họ nắm trọn chánh nghĩa.
Hòa hợp là mọi người xếp hàng về dưới trướng của đảng cộng sản vì đảng cộng sản đã mở rộng vòng tay đón nhận những “người con hoang” trở về.
Tức không hề có chuyện Hòa giải, hai bên nhìn lại để thấy đúng/sai mà thật lòng sửa đổi vì một tiêu chung là quyền lợi đất nước, dân tộc .
Có hòa giải thật lòng tự nhiên có ngay hòa hợp.





“Hòa giải, Hòa hợp dân tộc”

Hiệp định Paris qui định
“Hội Đồng Quốc gia Hòa giải Hòa hợp dân tộc” gồm ba thành phần ngang nhau,
và công nhận hai thực thể chánh trị ngang nhau ở Miền nam là Chánh quyền Sai gòn và Chính phủ Cách mạng Lâm thời;
hai chính thể này phải tiến đến một giải pháp chính trị trong tình trạng có đầy đủ các quyền dân chủ và không có sự can thiệp của Mỹ.
Có một điều khoản qui định
“tất cả tù chính trị đều phải được thả trên tinh thân “hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình”.
Nguyên văn như sau :

“ Ngay sau khi ngưng bắn, hai bên Miền nam Việt nam sẽ :

– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. ...” .


Nhưng ba ngày trước khi ký Hiệp Định Paris, Kissinger còn tuyên bố tại một cuộc họp báo rằng chính sách của chính phủ Mỹ là không “áp đặt một chính phủ liên hiệp hay một chính phủ liên hiệp trá hình trên nhân dân Việt Nam”.
Ngày 23 tháng Giêng năm 1973 Nixon tuyên bố trên các đài truyền thanh và truyền hình Mỹ rằng Hoa Kỳ “vẫn tiếp tục công nhận chính phủ Cộng Hòa Việt Nam như là chính phủ chính danh độc nhất”.
Nhưng trong chánh trị, xưa nay, chưa bao giờ có bạn muôn thuở, thù muôn đời. Nên sau đó, Mỹ đã bán đứng trọn vẹn Miền nam Việt nam cho cộng sản Bắc việt.
Và Hà nội
đã vứt bỏ từ lâu đề nghị do chính họ đưa ra,
áp dụng triệt để chánh sách trả thù giai cấp lên toàn dân Miền nam bởi “Người quét đường cũng có tôi với Cách mạng” (dạy trong học tập ở khu phố).





Không thể có “Hòa giải và Hòa hợp” với cộng sản

Khi nói “Hòa giải và Hòa hợp” với cộng sản không có gì khác hơn nói “ Hòa giải và Hòa hợp” với Thiện và Ác. Hoặc nói “tư tưởng Dân chủ Tự do Nhơn quyền” có thê hòa giải và hòa hợp với “Chủ nghĩa lý luận không có con người và chủ nghĩa vô nhơn bản” được không?

Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối ở bác Xít và bác Mao là hai người không thể sai lầm nên đã học tập nhuần nhuyễn tư tưởng của Mao. Xin trích vài nét nổi bậc trong tư tưởng chánh trị của Mao:
“ Làm chánh trị như làm chiến tranh. Không thể có xây dựng nếu không có phá bỏ, hủy diệt.

Trước hết, và căn bản, Mao chủ trương phá bỏ, hủy diệt Quốc tế cộng sản. Vì có làm như thế thì Trung quốc mới bình đẳng với Nga, Mỹ và xây dựng thế giới mới 3 cực.

Tần Thỷ Hoàng không có gì ghê gớm cho lắm vì hắn chỉ chôn sống có 460 nho sĩ. Chúng ta sẽ chôn sống ít lắm cũng phải 46 000 trí thức tiểu tư sản.

Phải thực hiện vườn không, nhà trống triệt để về vật chất và tinh thần. Mỗi người phải như một tờ giấy trắng, không được quyền sở hữu tài sản, nhà đất, và không được có kiến thức, tri thức. Tất cả phải thành “không”, sạch bách! Những người dân như vậy mới thông minh”
(M.H.Bernard, Mao Tsé-toung , 1893-1976 , VOIX , Paris 2003) .


Mao chủ trương chánh trị độc tài tuyệt đối như vậy để duy trì chế độ lâu dài.
Bởi Lê-nin dạy rỏ
“Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố vô giới hạn thì không thể nào bị lật đổ
(Simon LEYS , Essais sur la Chine , Robert Laffont , Paris 1998, trg 4.)
Nhơn đây tưởng cũng nên nhắc lại một chuyện xưa thời còn biên giới Thạch hản để thấy cộng sản không chỉ xem Chánh quyền là kẻ thù (Ngụy quân, Ngụy quyền), mà cả người dân bình thường cũng là kẻ thù cần phải tiêu diệt.
Trần Đĩnh kể trong Đèn Cù II (trang 461-462):
“Sông đã lấp thành tên, mà báo cứ ca ngợi cô Lý oằn lưng chèo lái.
Hầu hết nghe đều cười. Tự giễu và rộng lượng.
Nhưng khi Sinh nói ở Vĩnh Linh, anh đã chứng kiến những người ở phía bên Nam kia bị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt,
tôi lại thấy mọi người lạnh mặt lại. Sẵn sàng bao dung với ta và hóa đá với địch”.
Phải chăng việc tàn sát tập thể ở Huế năm Mậu thân 1968 chỉ là tiếp nối truyền thống man rợ này của Quân đội nhân dân?





Phải có Dân chủ mới hòa giải và hòa hợp

Cho tới nay, Hà nội chỉ kêu gọi mọi người về dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản nên trong vài tháng qua đã xảy ra lắm chuyện ỏ Việt nam nói rỏ không thể có “Hoà hợp, Hòa giải dân tộc” nếu không có Dân chủ.

Những bài hát tinh cảm đang hát bổng bị cấm. Sách vở biên khảo về lịch sử đã phát hành bị thu hồi vô cớ (về Trương Vĩnh Ký của Nguyễn Đình Đầu).

Về lịch sử, văn hóa, những kiến trúc cổ ở Sài gòn bị phá để bán địa điểm cho doanh nhơn ngoại quốc xây cơ sở mới. Hà nội không cần thấy người dân Sài gòn thương tiếc đó là một phần ký ức đời sống của họ bị Hà nội thêm một lần nữa cướp mất. Họ không thể thấy đó là chương trình phát triển đô thị.

Không chỉ riêng với Miền nam nơi bị cưởng chiếm 30/04/75, mà với cả Miền Bắc, người cộng sản cũng chủ trương biến đầu óc mọi người phải sạch như tờ giấy trắng để họ nhồi nhét đìều họ muốn. Những trận đánh Gạc Ma, chiến tranh biên giới hoàn toàn không tồn tại trong sách giáo khoa lịch sử thời Xã hội chủ nghĩa. Người trẻ chỉ còn tìm kiếm qua thông tin trên mạng, để họ kêu gọi nhau trân trọng những gì vốn dĩ thuộc về sự thật và lịch sử dân tộc.

Không thừa nhận lịch sử thì làm sao hòa giải và hòa hợp dân tộc được?
Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã, trả lời đài BBC, cho rằng một trong những yếu tố quan trọng để dẫn đến hoà hợp hoà giải dân tộc, đó là thừa nhận vai trò của Việt Nam Cộng Hoà:
“Theo tôi bất cứ một giai đoạn lịch sử nào cũng có vai trò của nó. Nếu thừa nhận vai trò đó, của hai bên, nó sẽ dễ dàng hoà hợp.
Các nhà nghiên cứu, làm sử đặt ra vấn đề là phải thừa nhận Việt Nam Cộng hoà là một thực thể. Trong giai đoạn đó có một thực thể, trong đó có vấn đề đối nội đối ngoại, có những điểm tốt, không tốt, lịch sử phải khách quan. Ví dụ như trong vấn đề Hoàng Sa, phải chấp nhận là Việt Nam Cộng hoà đã có trách nhiệm, và Hoa Kỳ cũng đã có phản ứng. Mà khi có phản ứng tức là Trung Quốc đã xâm lược. Đó là một điều phải khẳng định”.
Nên thấy bất cứ một giai đoạn lịch sử nào cũng có vai trò của nó. Nếu thừa nhận vai trò đó, của hai bên, thì mới có thể hoà giải và hoà hợp được.


Khi chỉ có người Bắc
mới thông minh,
mới có lý luận
nên mới lãnh đạo đảng được,
như Nguyễn Phú Trọng nói, thì mọi người chỉ còn biết phải đặt mình dưới trướng

đảng độc tài thối nát mà thôi.


Nguyễn thị Cỏ May - 05/05/2017

CHUYỆN BÌNH THƯỜNG

Image result for paris
Sau gần hai tuần thăm viếng các di tích lịch sử, ngắm no mắt cảnh núi rừng ở miền Nam nước Pháp, nằm phơi nắng trên bãi biển và trầm mình trong dòng nước mặn của Địa Trung Hải, tôi thấy tạm đủ. Tôi có cảm tưởng mình muốn nếm một cái gì khác hơn mà tôi chưa rõ. Với túi đeo lưng tôi từ bỏ vùng biển màu xanh da trời, đi lang thang một mình vào miền quê của vùng Provence.


Tôi đi qua những con đường dọc theo vườn chanh, các cánh đồng trồng hoa hướng dương và lavende. Trời nắng hừng hực. Một con đường trải nhựa nhỏ dẫn vào trung tâm một ngôi làng. Ngay giữa làng một phông tên nước đang chảy róc rách. Tôi nhìn chung quanh. Hoa géranium đỏ và tím nở rực rỡ trong các chậu treo duới bệ cửa sổ của những căn nhà chung quanh. Nhà thờ của làng nằm cách đó vài chục thước. Phố xá chỉ có vài tiệm bán hàng đang đóng cửa, một quán cà phê nhỏ với dù che nắng màu trắng ngà đàng xa. Tất cả cảnh vật ở nơi này đều thu nhỏ lại so với phố xá mà tôi đã thấy trong mấy ngày qua. Tất cả đều như đang mệt nhọc, nằm duỗi người ngái ngủ giữa cơn nắng trưa. Giờ sieste.


Tôi không thấy bóng dáng người đi lại trên đường, cũng chẳng nghe tiếng xe cộ hay tiếng trẻ con. Âm thanh róc rách của nước chảy nghe càng rõ hơn. Trước một vài căn nhà có bóng mát, vài người già ngồi trên ghế dựa gục đầu thiu thiu ngủ. Một ông Tây già kéo chiếc nón rộng vành xuống che mặt, ngoẻo đầu qua một bên như một cảnh trong phim cao bồi. Tôi tiếp tục tiến buớc, không vội vã, dõi mắt nhìn hai người đàn ông đang ngồi im lặng đánh cờ dưới tàn dù che nắng của quán cà phê. Tôi nhận ra mình đang bị thu hút trong không khí tịch mịch này. Thời gian, cảnh vật như ngưng đọng lại, đặc quánh. Nếu cứ tiếp tục bước đi cho đến khi qua khỏi biên giới Ý, tôi nghĩ mọi làng mạc sẽ đều có khung cảnh giống y hệt như vầy. Tôi như một con côn trùng không cưỡng lại được hấp lực của ánh sáng và đang có cảm giác say say như một tay chơi đang bắt đầu bị ngấm chất á phiện. Tôi chỉ muốn ngồi xuống đây, lắng nghe tiếng nước chảy và ngắm thời gian đang dừng lại.


Sau khi rửa mặt bên phông tên nước, tôi định ghé vào quán cà phê làm một tách espresso cho tỉnh táo rồi tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng tôi lại tiếp tục rảo bước đi theo con đường ra khỏi làng, ngang qua những căn nhà vách đá nằm rải rác dọc bên đường. Tiếng ve chợt nổi lên rộn rã. Cùng lúc tôi sững sờ chợt nhận ra một khung cảnh cũ ngày xưa. Cũng bức tường hoa, cũng căn nhà với cửa sổ lá sách và mái ngói âm dương đỏ nằm thấp thoáng sau tàn cây, bụi hortensia màu hồng nở rộ trong sân nhà. Và dưới bóng mát của tàn cây lớn một ông Tây già đội bê-rê trắng đang nằm ngửa người bất động trên chiếc ghế dựa. Cây ba-toong đen được gác trên một cái ghế khác nằm trong tầm tay...


*


Tôi thấy mình là đứa bé đang đứng bên lề quốc lộ 13 năm nào, nhìn vào sân nhà của ông Tây già. Tôi thường đi bộ từ nhà, băng qua đường rồi đi dọc theo quốc lộ 13 về hướng ngã sáu nhà thờ của thị xã. Trên lộ trình đó tôi phải đi ngang qua nhà ông Tây. Sân nhà ông nằm sau bức tường hoa thấp. Một cây vú sữa rộng tàn che nắng trước căn nhà với mái ngói âm dương đỏ. Ông thường nằm ngửa người trên chiếc ghế dựa dưới bóng mát của tàn cây, đầu vẫn đội bê-rê trắng. Cây ba-toong màu đen được để gần tầm tay. Ông nằm trong tư thế song song với quốc lộ, mặt hướng về phía sân đối diện. Thỉnh thoảng tôi thấy ông chống gậy đi bách bộ trong sân nhà hay đang đứng ngắm bụi hortensia và mấy bụi anh đào.


Tôi không nhớ đã thấy ông lần đầu từ bao giờ. Tuy thường tò mò đứng nhìn ông, nhưng một ông Tây già nằm thảnh thơi trong sân nhà trên đất nước này đối với tôi lúc đó thật ra cũng chỉ là một chuyện bình thường. Nó cũng bình thường như tiếng súng đại bác nổ rền hàng đêm. Đôi khi chiến trận ập về đến thị xã, sợ thì có sợ, nhưng đó cũng là chuyện bình thường. Giữa trưa trời nắng hừng hực, mấy chiếc xe GMC chở đầy lính Mỹ chạy bạt mạng trên quốc lộ 13: chuyện bình thường. Đôi khi xe nhà binh chở thương binh hay lính tử trận chạy ngang qua: chuyện bình thường. Dân tỵ nạn chiến cuộc từ miền trên đổ về, nằm la liệt trong các trường học hay sân chùa: chuyện bình thường.


Khi lên lớp ba tiểu học, tôi đã bắt đầu được học tiếng Pháp với một ông thầy già. Lên đến lớp nhì – tôi đã được chín tuổi – tôi bập bẹ được vài câu tiếng Pháp đơn giản. Dù đã thường xuyên đi ngang qua nhà ông Tây già, tôi vẫn không đủ tự tin để có thể chào ông một câu bằng tiếng Việt chớ đừng nói tới bằng thứ tiếng Pháp vỡ lòng. Tuy nhiên ý nghĩ sẽ áp dụng một câu tiếng Pháp để chào hỏi ông đã bắt đầu thôi thúc. Tôi âm thầm chuẩn bị một câu câu chào hỏi nhỏ trong đầu, nghĩ rằng mình phải thử một lần, chắc cũng không khó lắm. Tôi cũng phải bạo dạn hơn, giống như những thằng cỡ lứa tuổi tôi thường cởi trần trùng trục, vừa chạy theo mấy chiếc xe Mỹ vừa hét hé lô hé lô với hy vọng được mấy người lính Mỹ ném cho vài chiếc kẹo.


Vào một buổi trưa tôi lại đi ngang nhà ông. Như một thói quen, tôi bước chậm lại rồi đứng nhìn vào sân nhà. Lúc đó ông đang đi bách bộ trong sân. Bỗng dưng ông chợt đổi hướng và đi lần ra phía cửa. Thay vì tiếp tục bước đi, tôi lại đứng bất động nhìn ông, phân vân không biết có phải đây là cơ hội để thử câu chào bằng tiếng Pháp đã chuẩn bị từ nhiều ngày. Tôi chợt nghe tiếng ông Tây già vang lên rõ ràng từng chữ giữa nắng trưa: Bonjour, comment ça va? Điều này thật bất ngờ. Như đã chuẩn bị trước, tôi vẫn đinh ninh người hỏi câu này chính là tôi chớ không phải là ông. Bây giờ vai trò đột nhiên thay đổi, tôi đứng đờ người ra. Ông Tây già kiên nhẫn đứng chờ và mỉm miệng cười. Trong cơn bối rối, tôi nghe mình lắp bắp: Bông dua, mẹt xi. Và không chào ông, tôi bước đi thẳng luôn một nước.


Dù sao đi nữa tôi đã vượt qua giai đoạn đầu khó khăn. Từ đó về sau, khi đi ngang nhà ông, nếu tình cờ gặp ông trong sân, tôi đủ can đảm vẫy tay chào ông và nói được nguyên một câu tiếng Pháp đã học trong trường. Như thường lệ ông vẫy tay chào và trả lời lại bằng tiếng Pháp. Ông vẫn nằm thảnh thơi dưới tàn cây vú sữa với chiếc nón bê-rê cố hữu giữa tiếng ồn ào của xe cộ trên quốc lộ 13 và tiếng ồn ào kinh khiếp của bom đạn rơi rớt trên đất nước này. Tình trạng tiếp xúc giữa ông và tôi không có gì thay đổi nhiều cho đến khi tôi đang học năm đầu của chương trình đại học vào năm một chín bảy mươi lăm. Cái ngày ba mươi tháng tư định mệnh đó đổ ập đến.


Từ thành phố trở về, trong không khí bàng hoàng và hồi hộp chờ đợi chuyện gì sẽ tiếp tục xảy ra, tôi thấy cả thị xã như bị chìm lấp, ngộp thở dưới rừng cờ lạ lẫm màu sắc. Đi ngang qua nhà ông Tây già, tôi không thấy ông nằm dưới tàn cây vú sữa hay đi bách bộ trong sân. Một lá cờ tam tài thật lớn phủ lên gần hết hai cánh cổng ra vào căn nhà ông. Vài tuần sau đó, tôi cũng không còn thấy lá cờ tam tài. Cổng nhà ông khóa kín. Và tôi không bao giờ gặp lại ông Tây già nữa. Tôi nghe người lớn trong nhà nói với nhau rằng hình như ông đã hồi hương.


Hoàn cảnh nào đã làm ông Tây già nhận nơi này là quê hương, đã nằm thảnh thơi trong bao nhiêu năm chiến tranh dưới tàn cây vú sữa, đã đi bách bộ trong khoảnh sân gần quốc lộ dẫn về những vùng giao tranh ác liệt nhất. Tôi đã đủ lớn khôn để thấy rằng đó không phải là chuyện bình thường. Vậy mà khi chiến tranh chấm dứt, ông lại từ bỏ nơi chốn này để trở về quê mẹ của ông ở Âu Châu. Điều đó lại càng không phải là chuyện bình thường.


*


Qua giây phút bàng hoàng, nhìn kỹ lại, tôi thấy khung cảnh có khác hơn căn nhà nằm sát bên quốc lộ 13 ngày xưa. Tàn cây che mát cho ông Tây già là cây cam của miền Provence. Trong góc sân một bụi trúc đào nở hoa đỏ rực, nằm gần cây ô liu. Tôi đang ở miền nam nước Pháp. Hoàn cảnh đất nước cũng đưa đẩy cho tôi đến sinh sống trên cùng lục địa Âu Châu của ông Tây già ngày xưa. Giờ đây tôi đang đứng trên mặt đất của quê mẹ ông. Bỗng dưng một nỗi buồn thật sâu, thật thấm thía vặn thắt gan ruột tôi. Dưới ánh nắng miền Provence tôi nghe mình buộc miệng hỏi một câu của thằng bé trong những buổi trưa nhiệt đới ngày nào: Bonjour Monsieur, comment ça va? – chào ông, ông khoẻ không?


Ông Tây già vẫn nằm bất động trong bóng mát. Nhưng ông chợt từ tốn ngẩng đầu lên nhìn về hướng tôi đang đứng, rồi cũng cùng cử chỉ thật từ tốn ông từ từ đưa bàn tay lên vẫy vẫy chào. Xong ông lại nằm im trở lại theo tư thế cũ. Có lẽ ông thấy gã đàn ông mang túi đeo lưng chỉ là một du khách tình cờ đi ngang qua nhà ông. Đó là chuyện bình thường.


Nguyễn Hoàn Nguyên

Suyễn do phế khí suy


Image result for BINH Suyễn

Phế chủ khí, là vật chất trọng yếu để duy trì sự sống. Khí được tạo do hai nguồn: Một là khí ở trời do phế hít vào, hai là tinh khí trong đồ ăn uống vào dạ dày được phối hợp với tì và chuyển hóa thành hai phần khí.

Phần thanh khí chuyển lên phổi để đưa vào tim đi nuôi cơ thể. Phần trọc khí đưa xuống ruột non, ruột già thanh lọc một lần nữa. Phần thanh đưa lên phế, phần trọc đưa xuống ruột già và bàng quang thải ra ngoài.

Hai khí này kết hợp lại chứa ở lồng ngực gọi là tôn khí. Tôn khí là nguồn gốc của khí trong toàn thân có nhiệm vụ trao đổi hít thở, dồn về tâm và đưa vào kinh mạch, đi nuôi cơ thể.

Tâm chủ về huyết và phế chủ về khí. Cơ thể nhờ sự vận hành tuần hoàn của khí huyết để vận hành chất dinh dưỡng, duy trì hoạt động cơ năng hoạt động nhịp nhàng giữa các tạng phủ. Tâm với phế, huyết với khí nương tựa nhau tạo nên sự làm việc chặt chẽ và nhịp nhàng trong thân thể của chúng ta.

Phế còn thông điều thủy đạo, và túc giáng: Nếu phế mất khả năng túc giáng, sự thay đổi cũ mới của thủy dịch sẽ gây ra trở ngại, thì thủy dịch sẽ dồn lại, tiểu tiện sẽ không thông, lâu ngày sẽ sinh ra phù thũng.

Phế chủ về khí, cho nên lỗ chân lông cũng gọi là khí môn. Người bệnh phế khí hư có thể gây ra suyễn và da lông cũng thường bị hư yếu, hay ra mồ hôi, còn dễ bị cảm khi thời tiết đổi từ nóng sang lạnh, hay đổi từ Thu sang Ðông là như vậy.

Một khi thận dương suy, ảnh hưởng tới phế khí suy gây ra thận bất nạp khí. Bệnh nhân thở hụt hơi, có nghĩa hít vào ngắn hơn thở ra, suyễn, đau phần dưới lưng, sợ lạnh, sắc mặt đen sậm, tinh thần mệt mỏi, hay sợ sệt.

Inline images 2

Ðể chữa bệnh này dĩ nhiên chúng ta phải dùng bài Bát Vị Ðịa Hoàng Thang, gia thêm: hoàng kỳ, tử tô tử, bách bộ, khoảng đông hoa, tử uyển, bán hạ.

Bài Bát Vị Ðịa Hoàng Thang
1. Phục linh 9 grs
2. Mẫu đơn bì 9 grs
3. Quế bì 3 grs
4. Thục địa 15 grs
5. Sơn thù du 9 grs
6. Phụ tử 6 grs
7. Trạch tả 9 grs
8. Hoài sơn 9 grs

Gia:
1. Hoàng kỳ 9 grs
2. Khoảng đông hoa 9 grs
3. Bán hạ 6 grs
4. Tử tô tử 9 grs
5. Tử uyển 9 grs
6. Bách bộ 9 grs
7. Cam thảo 3 grs

Bát vị địa hoàng thang trong Ðông y được dùng chữa trị những loại bệnh sau: Phù thũng, tê tứ chi, bao tử ứ nước, tiểu đường. Toa thuốc này mục đích chính là tái tạo lại sự suy của thận dương, nang thượng thận và sản xuất lại tinh. Thường cho bệnh nhân quá mệt mỏi và suy nhược, ăn uống chậm tiêu, táo bón, tiểu khó, tiểu nhiều, khát nước kèm khô lưỡi, đau lưng, yếu vùng rốn.

Nhiệm vụ của từng vị trong bài thuốc:

– Thục địa: Gia tăng sức lực, bổ dưỡng và nuôi dưỡng.
– Sơn thù du: Gia tăng sức lực, tăng cường thận, ấm bụng và chân, gia tăng sinh lực cho nam giới.
– Hoài sơn: Nuôi thận, giảm lạnh thân thể và giúp da trở lại mượt mà.
– Mẫu đơn bì: Tan máu cục và giảm đau.
– Phục linh: Thoát nước.
– Trạch tả: Gia tăng đường tiểu tiện và giảm khát.
– Quế bì: Giúp cho thục địa trong sự lưu thông máu và phục linh còn gia tăng sự tiểu tiện ở vùng hạ tiêu.
– Phụ tử: Gia tăng thân nhiệt, tái tạo lại trách nhiệm của tạng phủ bị suy yếu và ăn khó tiểu sẽ nhờ phục linh và quế khai thông.

Nhiệm vụ của sáu vị thêm vào bài Bát Vị có tác dụng làm ôn phế, thông phê, tiêu đàm và giáng phế khi nhờ tử tô tử.

Bài thuốc này giúp cho thận và phế ấm lại, người bệnh cảm thấy phấn chấn ra, hết suyễn, hết sợ lạnh, sợ gió, hơi thở trở lại bình thường, bớt đi tiểu nhiều lần và nhất là khi ho nước tiểu không bị nhỉ ra nhất là đối với phụ nữ. Lý do thận khí suy là cơ vòng bị nhão ra không đàn hồi theo như ý mình muốn, vì vậy phải bổ thận khí.

Ví dụ, chúng ta tìm hiểu những bệnh liên quan tới thận và phế khi suy. Một khi phế yếu không hít thở được đầy đủ oxy cần thiết cho cơ thể và tế bào có cơ hội bị ung thư nhiều hơn người có phế khí khỏe để lấy đầy đủ oxy.

Viết đến đây tôi nhớ tới tài liệu của bệnh viện Johns Hopkins nổi tiếng ở Hoa Kỳ cho biết: “Những tế bào ung thư không thể phát triển được trong môi trường đã được oxy hóa. Tập thể dục hằng ngày và thở sâu để đưa nhiều oxy vào ngăn nhỏ tế bào. Chữa bệnh bằng cách hít oxy vào còn được coi như một dụng cụ tiêu hủy các tế bào ung thư.”

Tài liệu này còn nói trong một đời người chúng ta có thể bị tế bào ung thư tấn công từ sáu tới 10 lần. Khi hệ miễn nhiễm của chúng ta mạnh có thể phá hủy được tế bào ung thư và ngăn ngừa được tế bào ung thư phát triển và tạo những ung bướu.

Khi một người có tế bào ung thư có nghĩa là người đó ăn uống thiếu bổ dưỡng, cũng có thể do di truyền, nhưng cũng do môi trường sống, công ăn việc làm, đồ ăn và cách sống của mình.

Bác Sĩ Ðặng Trần Hào

Bài Xem Nhiều