We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 9 May 2017

42 năm- hai thế hệ- hai lối sống của người Việt lưu vong


Tôi may mắn được đọc hai tác phẩm của hai cây bút trẻ gốc Việt cùng sống tại Mỹ, một nam một nữ, trước khi sách xuất bản vào mùa Xuân này, đúng dịp kỷ niệm 42 năm hàng triệu người Việt bắt đầu bỏ nước ra đi. Qua đó, được biết qua hai thế hệ, người Việt lưu vong đã chọn hai lối sống hoàn toàn khác nhau.

Tác phẩm đầu tiên là The Best We Could Do (Điều tốt nhất chúng tôi có thể làm) của Thi Bùi, một hồi ký bằng tranh (Illustrated memoir), do Abrams Comicarts, New York, xuất bản vào tháng Ba 2017, dầy hơn 300 trang.
Truyện bằng tranh, xưa nay vốn là món giải trí dành cho nhi đồng, là loại truyện vui giả tưởng. Thường không được coi là những công trình nghiêm túc chứa đựng những sự kiện lịch sử đáng tin cậy.
Khác với thường tình, The Best We Could Do, tuy mang hình thức truyện tranh nhi đồng, nhưng có nội dung nghiêm chỉnh, đứng đắn hơn cả nhiều sách sử được viết cho người lớn.
Trong khoảng nửa thế kỷ qua, nhiều người quan tâm thường băn khoăn về một tình trạng thiếu những cuốn sách có nội dung đầy đủ, được viết một cách trung thực bởi những ngòi bút hoàn toàn vô tư về Việt Nam, để giúp giới trẻ có một nhận thức rõ rệt về quá khứ, về những gì đã thực sự xảy ra tại đất nước mình, hay quê hương cũ của mình (đối với giới trẻ gốc Việt tại hải ngoại).
Từ trước tới nay, sách viết về Việt Nam đã có khá nhiều về lượng, nhưng quá ít những cuốn sách có nội dung đáng tin cậy.
Về phía các tác giả ngoại quốc, nói chung, sách của họ được viết thận trọng, công phu, nhưng không tránh được những khuyết điểm đáng tiếc. Với các tác giả thuộc giới truyền thông từng hành nghề ở Việt Nam, vì từng gặp khó khăn từ phía các viên chức nhà nước, trong khi được trọng vọng từ phía đối lập, và thiếu cơ hội tiếp xúc với quần chúng, cái nhìn của họ thường có thiên kiến rõ rệt: Ghét bỏ chính quyền và coi thường người dân. Với các tác giả trẻ sinh ra sau chiến tranh VN, chỉ biết tới VN qua sách vở và các tài liệu giải mật, quan điểm của họ vô tư hơn. Nhưng vì thiếu kinh nghiệm sống của những người trong cuộc, công trình của họ nhiều khi thiếu sót những nhận định sát thực tế.
Ngoài ra, quan trọng hơn là hầu hết sách giáo khoa tại các nước, kể cả những nước có nhiều liên hệ với Việt Nam từ trước, như Mỹ, Anh, Pháp, Úc… cũng có nội dung thiếu vô tư và trung thực, ở phần nói về Việt Nam qua những biến cố lịch sử vào hậu bán thế kỷ 20. Lý do vì các tác giả là người nước ngoài, thiếu kinh nghiệm sống và tài liệu xác thực, cùng với ảnh hưởng của phong trào phản chiến thời gian họ trưởng thành. Điều này, đáng lẽ cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản nên coi là ưu tiên hàng đầu trong nỗ lực góp phần chỉnh sửa, nhưng thay vào đó, chỉ chú tâm tới những việc nặng về hình thức như treo cờ, phủ cờ.

Gạt ra ngoài loại sách liên hệ tới lịch sử xuất bản trong nước không thể tin được, vì được soạn thảo theo đường lối và trong vòng kiểm duyệt của nhà nước cộng sản. Một số tác phẩm của người trong nước xuất bàn ở nước ngoài gần đây, tuy thoát vòng kiểm duyệt nhưng thiếu bao quát. Những tác giả gốc Việt lớn tuổi hiện sống ở ngoài nước, từng sống trong bầu không khí bị ô nhiễm bởi các khuynh hướng chính trị trái ngược, sách của họ thường chỉ để tự bào chữa, hay đả kích người khác, hoặc viết theo kểu “múa gậy vườn hoang”, không cần dựa vào bằng chứng rõ ràng. Hiếm hoi lắm mới có được một tác phẩm như cuốn A Story of Vietnam của Trương Bửu Lâm, giáo sư hưu trí về môn sử tại Unisersity of Hawaii, xuất bản năm 2011. Tác giả không gọi là “A History of Vietnam” (Lịch sử Việt Nam), có vẻ nặng nề, khô khan, mà chỉ gọi là “Một Câu Truyện Việt Nam,” dễ đọc, nhưng đầy đủ, trung thực, không phải truyện giả tưởng.
Rút cục, giới trẻ gốc Việt ở nước ngoài, hay những ai muốn có một khái niệm tổng quát về Việt Nam từ hồi Đệ Nhị Thế Chiến tới nay, thiếu những tài liệu tham khảo căn bản không quá nặng nề, giản dị nhưng trung thực.

The Best We Could Do là một trong những công trình hấp dẫn, như một món ăn tinh thần bổ dưỡng chọn lọc có thể đáp ứng cơn đói này. Tác giả là một nữ nghệ sĩ, không viết hồi ký bằng văn xuôi, mà mô tả bằng hình vẽ. Hàng ngàn hình vẽ sắc sảo với lời chú thích ngắn gọn đã làm cho khán/độc giả dễ bị cuốn hút vào nội dung câu truyện của một gia đình trải qua nhiều sóng gió từ khi còn ở Việt Nam, cũng như khi đã định cư ở Mỹ. Câu truyện gia đình được trình bầy trên cái nền (background) là tình cảnh VN trong thời kỳ xáo trộn kéo dài cả nửa thế kỷ, khiến người xem/đọc có được cái nhìn khái quát từ thời Pháp thuộc, tới khi đất nước bị chia đôi, cuộc di cư 1954, cuộc chiến Quốc Cộng, gia đình ly tán, cuộc bỏ nước ra đi từ năm 1975… cho đến những khó khăn của cuộc sống nơi đất mới.
Tác giả mô tả lại những gì mình trải qua khi còn nhỏ, thấy và nhớ những gì đã sẩy ra, nhưng không hiểu rõ căn nguyên. Đến khi khôn lớn mới tìm hiểu trong hàng chục năm, qua những câu hỏi đặt ra cho bố mẹ, họ hàng, kể cả cất công về Việt Nam, đi khắp nước để tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình. Tất nhiên, người xem/đọc không thể kiểm chứng được những chi tiết liên hệ tới gia đình tác giả, nhưng những người ở lớp tuổi bảy tám chục trở lên có thể thấy tình hình xã hội và các biến cố quan trọng đã được trình bầy một cách khá đầy đủ và trung thực.
Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói thêm rằng, vào thời gian đọc The Best We Could Do của Thi Bùi, tôi cũng được đọc một tác phẩm khác cùng loại, là cuốn Such a Lovely Little War: Saigon 1961-63 (Một cuộc chiến nhỏ thật dễ thương) của Marcelino Truong (dịch bởi David Homel từ tiếng Pháp Une Si Jolie Petite Guerre, xuất bản ở Pháp năm 2012) do Arsenal Pulp Press, Canada, phát hành năm 2016. Marcelino Truong, chẳng phải ai xa lạ, chính là cháu giáo sư Trương Bửu Lâm.

clip_image004
Cũng với hình thức truyện tranh cho nhi đồng, diễn tả cuộc sống của một gia đình trên nền chính trị và xã hội tại Sàigòn vào thời cuối của Đệ Nhất Cộng Hoà (Chế độ Ngô Đình Diệm). Cũng với lối vẽ dí dỏm của tác giả, và ghi lại đầy đủ những sự kiện quan trọng khá trung thực, nhưng thời gian chỉ giới hạn trong hai năm, từ 1961 đến 1963. Nếu The Best We Could Do là món chính thì Such a Lovely Little War là món phụ không nên thiếu trong bữa ăn cần thiết cho giới trẻ đói thông tin trung thực về lịch sử cận đại Việt Nam.

Trở lại đề tài chính về cuộc sống của người Việt lưu vong tại Hoa Kỳ, tôi muốn nói tới cuốn The Refugees (Những người tị nạn) của Việt Thanh Nguyễn. Đây là một tác giả trẻ gốc Việt nổi tiếng, từng đoạt giải Pulitzer năm 2016 qua cuốn tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm tình viên). Viết trước The Sympathizer, nhưng The Refugees được Grove Press xuất bản sau, vào ngày 07 tháng Hai năm 2017, dầy 224 trang. Đây là một tuyển tập, gồm chín truyện ngắn, viết cho mọi người tị nạn, ở mọi nơi (dedicated to "all refugees, everywhere." Một trong những truyện hay nhất, có lẽ là truyện Fatherland (Tổ Quốc) ở cuối cùng. Tác giả tuy rời Việt Nam khi còn rất nhỏ, rồi lớn lên và trưởng thành ở nước ngoài, đã lột tả được cái “căn tính” của nhiều người Việt, dù còn trong nước hay ở ngoài nước. Người trong nước phải giả dối để sống còn, ngoài nước chẳng ai chết đói, cũng cố “tạo mẽ” vì lý do sĩ diện. Ở đây, tôi chỉ đề cập tới nội dung của truyện thứ ba, War Years (Những năm chiến tranh), không phải là truyện hay nhất, nhưng nó mô tả rõ nhất một lối sống của người Việt tị nạn trên đất Mỹ.

Với Thi Bùi, sau khi cố công tìm hiểu những gì bản thân và gia đình mình đã trải qua trong vài ba đời, ở tuổi bốn mươi, tác giả nhìn con trai mười tuổi của mình, thấy nó chẳng còn dính dáng gì tới quê cũ, hay chuyện được thua trong quá khứ. Không phải chỉ có dòng nước thay đổi liên tục, đất cũng thay đổi không ngừng, và đã thay đổi quá nhiều, chỉ mong con có một tương lai hoàn toàn tự do cho chính nó. Hình ảnh cuối cùng, nhin con trai vẫy vùng trong nước, vươn mình về phía trước, như con cá kình được phóng sinh vào đại dương, người mẹ chỉ còn thấy tương lai.
Câu truyện của Việt Thanh Nguyễn ghi lại một cuộc sống khác hẳn của người Việt tị nạn. Khi vai “Tôi” trong truyện mới mười ba tuổi, ngoài giờ đi học phải giúp đỡ cha mẹ cực nhọc kiếm sống nhờ một cửa hàng thực phẩm nhỏ. Bán một hộp súp lời 5 xu, một cân (pound) thịt heo lời 10 xu, 10 cân gạo lời 25 xu. Nhưng thỉnh thoảng đến hẹn, có bà tên Hoà tới thu tiền đóng góp cho quỹ chống Cộng (I’m collecting funds for the fight against Communists). Bà đòi 500 đô.
Khi bà mẹ từ chối nộp tiền, bà Hoà lớn tiếng nói với mọi người có mặt trong tiệm: “Các ông các bà có nghe bà ấy nói gì không? Bà ấy không ủng hộ chính nghĩa. Nếu bà ấy không phải là Cộng Sản, bà ấy cũng như Cộng Sản. Nếu quý vị tới mua hàng ở đây, là quý vị đang giúp Cộng Sản”.
Bà Hoà tức giận bỏ đi, bà Mẹ vẫn cương quyết nói với chồng con: “Chiến tranh đã qua rồi. Không còn đánh đấm gì nữa”. Ông Bố có vẻ thực tế hơn; “Chiến tranh có thể đã qua rồi, nhưng trả một chút tiền bịt miệng (hush money) có thể làm cho cuộc sống của mình dễ chịu hơn” (tr. 53). Cuối cùng, bà Mẹ đành tìm đến nhà bà Hoà vào buổi tối, xin nộp 200 đô.
***
Khởi đầu từ tháng Tư năm 1975, có hàng triệu người Việt đã bỏ nước ra đi. Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi ngưởi một ước mơ, với mục đích chung ra đi tìm tự do. Bốn mươi hai năm sau, mỗi người chọn tự do một cách khác nhau. Có người chọn tự do thoát khỏi sự ràng buộc của quá khứ. Có người cố gắng lo cho người ở quê cũ khỏi tù đầy và được tự do ngôn luận, trong khi từ xa vạn dặm, vẫn gây dựng nhà tù vô hình cho chính mình, và tự mình làm viên chức kiểm duyệt; đôi khi, tự đảm nhiệm luôn cả vai trò quan toà.
Dù lối sống nào, vẫn là tự do lựa chọn.
Đinh Từ Thức
------------
(Quốc Hận 2017- Cảm xúc viết bài thơ này giữa đêm khuya vùng trời lưu vong vắng lặng khi ngồi nghe lại bản nhạc “Mẹ Việt Nam ơi – Chúng con vẫn còn đây”, thơ tôi viết từ năm 1972 trên quê hương tràn ngậpkhói lửa chiến chinh, nhạc sĩ Nguyễn Ánh9 phổ nhạc… )
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
Bốn mươi hai nămrồi
Con vẫn đi tìm MẸ.
Vết thương mồ côi còn hoen máu lệ
Bao đêm ác mộng bùng lên.
Giữa trùng dương thuyền như lá lênh đênh
Con quỳ lạy khi tầm xa quê cũ.
Trời lưu vong tượng đá đầy rêu phủ
Góc công viên con gọi MẸ, đâu rồi ?
Con đã về : - tìm hơi ấm trong nôi
Ôm tay MẸ, sống nguyên đời thơ dại.
Viên gạch lót đường,xuyên rừng đêm biên ải
Phút sa cơ, con thấy MẸ bên mình.
Đời trung niên hằn dấu ấn điêu linh
Trong ngục tối,máu đen thành mực viết.
Xin dâng MẸ,dòng Thơ con tha thiết
Chỉ cầu mong tồn tại, tiếp Lên Đường.
Rồi hôm nay,nhìn lại cảnh quê hương
Con vẫn thấy MẸ cằn khô áo rách.
Tóc bạc cuối đời, con vẫn xin làm gạch
Lót đường đi cho thế hệ Em-Con.
Xin MẸ thương con, dù sức yếu mỏi mòn
Nâng con dậy, không quay đầu bỏ cuộc.
Bạn bè con theo tuổi đời bay vút
Bóng cô đơn còn lại giữa đêm trường.
Dù ngày mai theo tiếng gọi Vô Thường
Hồn con vẫn cá Hồi quay tìm MẸ.
Con sẽ về - hòa chung cùng Tuổi Trẻ
Thét vang lên đòi lại Quyền Người.
Đồng hành bên nhau, vang vọng tiếng cười
Quỳ ôm MẸ giữa trời Xuân Dân Tộc.
Tuổi hoàng hôn,con không còn tiếng khóc
Nhưng vẫn còn nguyên vẹn máu hồng tim.
Hơn bốn mươi năm,con còn mãi đi tìm
Hình bóng MẸ nuôi đời con Trung Nghĩa.
Cách không gian nhưng cùng chung tuyến địa
Con nguyện lòng theo bước MẸ ngày đêm.
Con không về -khoe cảnh sống ấm êm
Nơi xứ lạ lãng quên hồn Tổ Quốc.
Không làm khách nhàn du giữa nguồn đau Dân Tộc
Thản nhiên nhìn bao bạo ngược tàn hung.
Đến cuối đời xin tâm nguyện cùng chung
Bao thế hệ lau khô dòng lệ MẸ.
Đất Nước hồi sinh giữa trời Xuân muôn vẻ
Như nghìn xưa theo MẸ lúc lên non.
Hoa Nhân Bản, viết lại Sử vàng son
Dâng lên MẸ -xin vuông tròn Đạo Lý.
Phút tàn hơi chỉ mong lòng toại ý
Được quỳ hôn từng mảnh đất Quê xưa.
Đàn Cháu Con thôi dãi nắng dầm mưa
Trời lại sáng, đường tương lai rộng mở.
Ngẩng cao đầu,nhịp hòa chung hơi thở
Cùng năm Châu sống đẹp với Nhân Quyền.
MẸ VIỆT NAM ! Cho con vẹn lời nguyền
Chung góp sức,trọn đời xin dâng MẸ !.
Hơn bốn mươi năm, trầm luân dâu bể
Vẫn nguyện tình chung thủy với Quê Hương.

Võ Đại Tôn
Hải ngoại, 42 năm Quốc Hận – 2017.

CHUYỆN TRANH CÃI VỀ LÁ CỜ: VIỆC LÀM CỦA VIỆT CỘNG VÀ B ỌN TAY SAI

Dẫn nhập: Mới đây, trên đài RFA có đăng tải bài viết “Quá khứ và tương lai” của blogger Nguyễn Thị Từ Huy ở Paris với mục đích “kết tội” người Việt tỵ nan cộng sảnlfa trah đấu cho quá khứ là Việt Nam Cộng Hòa và cờ vàng ba sọc đỏ. Chuyện này trước đây c ố Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt và bọn tay sai đã làm

Cách đây 3 năm, ngày 8-11-2014, BBC online đưa ra bài “Quanh tranh cãi mới về cờ đỏ cờ vàng”.

Sở dĩ gọi là “mới” vì chuyện này xảy ra khi “nhà dân chủ bộ đội” Điều Cày (Nguyễn Văn Hải) công khai từ chối lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ khi có người trao cho anh ta. Chuyện đài BBC (mà có người gọi là Bà Bán Cá) phỏng vấn hai anh nhà báo Đỗ Phủ của đài SBTN (mà có nhiều người gọi là đài Sinh Bắc Tử Nam) và nhà báo Trần Đông Đức của báo Người Việt Đông Bắc (mà có nhiều gọi là báo Người Vẹm) để chữa cháy là chuyện chẳng có gì lạ.

Bài viết được viết cách đây 3 năm sẽ trình bày vì sao chuyện tranh cãi về cờ vàng, cờ đỏ là một việc làm vô ích.

*

Chuyện tranh cãi về cờ vàng ba sọc đỏ và cờ đỏ sao vàng không phải tới bây giờ mới có. Từ thập niên 80, ông bác sĩ Bùi Duy Tâm đã “quậy” lên về chuyện này rất ư là nổi bèo, nổi bọt. Lúc đó, tinh thần chống Cộng của người Việt hải ngoại còn rất cao nên ông ta và nhóm của ông ta khoảng 5, 10 người bèn tổ chức tại tư gia cử hành lễ tiễn đưa bài “Quốc Ca” của chế độ VNCH. Và sau đó, ông ta và nhóm của ông ta bèn ca bài “Việt Nam!Việt Nam” của Phạm Duy để thay thế. Chuyện “quậy” của ông bác sĩ Bùi bị dư luận khắp nơi phản đối nên sau đó xẹp lép. Kế, qua đầu thập niên 90, ông ta lại “quậy” tiếp “chuyện tình trên sông Đà” với nữ sĩ phản kháng Dương Thu Hương và đã bị bà nhà văn này mắng cho một trận. Năm ngoái, năm kia gì đó thì ông bác sĩ này lại chơi bạo đón tiếp Phó Thủ Tướng VC Trương Vĩnh Trọng tại tư gia ở San Francisco, lại bị dư luận nguyền rủa, khinh khi!

Kể từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn 2 triệu người Việt không chấp nhận chế độ CS đã chạy ra nước ngoài để tỵ nạn chính trị và quyết tâm lật đổ chế độ VC được tượng trưng bằng lá cờ máu màu đỏ, sao vàng. Tập thể người Việt tỵ nạn trên khắp thế giới vẫn luôn nêu cao ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ biểu tượng của VNCH, biểu tượng tinh thần chống Cộng của người Việt Quốc gia tỵ nạn CS. Và dưới lá cờ này, biết bao nhiêu thanh niên Việt Nam đã hy sinh xướng máu để bảo vệ ngươì dân miền Nam được sống yên lành, hạnh phúc.

Ngày nào Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ còn được người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản xem là biểu tượng của cuộc tranh đấu ngày đó VC còn run sợ cuộc sụp đổ của chúng gần kề. Điều này được chứng minh cụ thể khi cách đây 15 năm, Võ Văn Kiệt, cố Thủ Tướng VC đến Paris đã nài nỉ người Việt Quốc Gia nên “thôi tranh đấu dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ”, vì Kiệt biết rằng đó là linh hồn của những người Việt Quốc Gia chống Cộng. Nhưng Võ Văn Kiệt đã thất bại hoàn toàn khi tất cả người Việt Quốc Gia trên thế giới phản đối, hơn nữa, hành động của Võ Văn Kiệt đã chứng tỏ cho thế giới thấy VC thực sự sợ hãi lá Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa.

Từ đó, VC không còn chính thức kêu gọi người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản xoá bỏ quốc kỳ VNCH nữa, nhưng chúng cho bọn “bồi thần” (chữ dùng của sử gia Tư Mã Thiên để chỉ bọn “đầy tớ của lũ đầy tớ”, bọn “tay sai của lũ tay sai” tìm trăm phương, nghìn kế để triệt hạ lá cờ này.

Chúng ta nhớ lại vụ tên “người đuôi chó” Trần Trường đã treo cờ máu và hình Hồ tại tiệm Hitek của hắn ta. Lập tức, hàng mấy chục ngàn đồng bào tại Nam California đã dùng lên phản đối, dùng cà rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ biểu tình trong 53 ngày đêm. Cuối cùng, lá cờ máu và hình Hồ tặc đã bị triệt hạ. Trần Trường đã bị police bắt thảy lên xe cây vì tội sang băng lậu. Và sau đó hắn đã phải bán sới tài sản về VN để “đào ao nuôi cá”; nhưng rồi lại cũng bị VC ăn cướp cơm chim, phải trồi đầu về Mỹ.

*

Mấy ngày qua, điện báo DanChimVietinfo có đăng tải một bài viết gây nhiều tranh luận là bài “Cờ này với cờ kia” của tác giả Tiên Sa. Nội dung và Lời Tòa Soạn của báo Đàn Chim Việt như sau:

“LTS: Nhận thấy có nhiều ý kiến đóng góp cho một vấn đề có thể sẽ trở thành đề tài thời sự, lâu nay từng có những suy tư trái ngược nhau trong cùng một bối cảnh là cố gắng dân chủ hóa VN, tác giả Tiên Sa viết tiếp bài “Cờ này với cờ kia” trên trang facebook của ông. Đàn Chim Việt tiếp tục giới thiệu đến quý độc giả. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Chúng tôi mong nhận những bài tranh luận cùng về chủ đề này với những cái nhìn khác.

Sáng nay được vài người bạn cho biết làm tôi hơi bất ngờ bài viết Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên lại lung tung xà bèng trên một số trang webs.

Trong bài viết trên thì nội dung và đại ý cũng đã rõ ràng. Những người trên facebook đọc thoáng qua rồi share cũng nhìn thấy và tự động trích cái ý đó ra làm phần giới thiệu. Trang web của The New Orleans Times cũng tự động nhận ra và tô đậm nó bằng màu đỏ. Nhưng vào tất cả những trang còn lại thì không biết họ đọc cái kiểu gì mà hiểu nội dung của bài viết đó thành vấn đề cờ xí và chỉ thấy phần lớn là cãi vã nhau về .. lá cờ Vàng

Lá cờ là cái gì?

Nhiều ý kiến trên các diễn đàn bảo rằng đã có không biết bao nhiêu người đã đổ xương đổ máu để tô thắm, để giữ gìn, để bảo vệ .v.v… lá cờ đó!

Sao lại đi làm một việc hoang phí lãng xẹt như vậy? Muốn có một lá cờ nào đó thì quý vị chỉ cần bỏ chút ít tiền ra mua hoặc may là có lá cờ chứ có tốn kém gì lắm đâu mà phải đi đổ xương đổ máu vô duyên vậy?

Có ý kiến thì cho rằng cờ Vàng là cờ của dân tộc Việt (?) Thấy vậy làm tôi thắc mắc không biết các triều đại Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần … là thuộc dân tộc nào? Tôi cũng không biết Họ Hồng Bàng và Nước Văn Lang là của dân tộc nào hay là Mười Tám đời Hùng Vương cũng dùng cờ Vàng ba sọc đỏ?

Cũng đã có lần có người ở địa phương tại đây nói với tôi rằng “Không cần biết! Chỉ biết ông già mình theo lá cờ đó thì nay mình cũng theo lá cờ đó!”

Vâng. Nghe thì có vẻ hiếu thảo lắm, nhưng chưa chắc. Coi chừng có phần không ổn! Không khéo lại trở thành … hỗn láo ..! Ông già mình theo lá cờ đó rồi ông nội mình thì sao? Thời ông nội mình đâu đã có lá cờ đó, có thể là lá cờ của triều Nguyễn mà. Vậy tại sao ông già mình không theo lá cờ triều Nguyễn? Tương tự như vậy mà tiếp tục đi ngược vào lịch sử thì có thấy mình hơi bá láp bá xàm không?

Có người thì bảo đó là một lá cờ “linh thiêng” (không phải là thiêng liêng). Vâng, nếu lá cờ đó là linh thiêng thì tại sao không lập đàn cầu cúng để xin lá cờ đó hiển hiện những sức mạnh siêu nhiên đặng quy tụ đồng bào lại dưới lá cờ đó, hoặc ít ra thì lá cờ đó cũng tự bay đến phất phới ở những nơi mình muốn?

Lá cờ là cái gì?

Ngày xưa Đinh Bộ Lĩnh (không phải là Đinh Tiên Hoàng nhé) dùng lau – chỉ là một loại cây cỏ mọc hoang thôi, để làm cờ tập trận. Khi trở thành Đinh Tiên Hoàng rồi thì lá cờ của nước Đại Cồ Việt có phải vẫn là cây lau đó nữa hay không? Hay lúc đó chính Đinh Tiên Hoàng đã phản bội Đinh Bộ Lĩnh vì đã thay cờ bằng vải mà không dùng lau nữa?

Điều rõ ràng là nếu không có lá cờ Vàng ba sọc đỏ thì có lẽ là tất cả các nơi có người Việt sinh sống ở hải ngoại đều đã bị nhuộm đỏ cả rồi! Đó là điều tôi tin chắc là như vậy! Tưởng tượng tới cảnh đó thì cảm thấy có phần … khủng khiếp!

Tôi đã viết trong bài trước rõ ràng:

“Đến lúc có những chuyển biến đòi Dân Chủ của người dân trong nước diễn ra, nếu những người gọi là Người Việt Quốc Gia hay là Việt Nam Cộng Hòa gì đó với cờ Vàng ba sọc đỏ không xác định được rằng mình chỉ là một bộ phận để góp sức thì họ sẽ trở thành một lực lượng phá hoại và làm cản trở hoặc gây ra những khó khăn không nhỏ cho sự đấu tranh của đồng bào. Nếu điều đó xảy ra thì họ lại thêm một lần nữa mang tội ác với Dân Tộc.”

Bản thân tôi, nói về cờ xí, nếu có một lực lượng nào đó dù có lấy cái quần tà lỏn làm cờ mà có thể mang lại Tự Do trên đất nước Việt Nam thì tôi không những chỉ đứng nghiêm để chào mà nếu cần cũng sẽ sẵn sàng quỳ lạy cái quần tà lỏn đó nữa.

© Tiên Sa

04 tháng 03 năm 2011

Nguồn: Tiên Sa facebook.”

*

Khi tôi viết bài này thì đã có 28 phản hồi đối với bài viết “Cờ này với cờ kia”; nhưng tôi chỉ xin đăng tải lại đây 2 phản hồi của hai ông Bac Pham và Vũ Đình Kh. Như sau:

Bac Pham says:

05/03/2011 at 04:17

Xin DCV đừng xóa comment này’

Tiên sư cái anh Tiên Sa, có học mà vô ơn, vô nghĩa, vô liêm sỉ. Chắc bố mẹ anh sẽ hãnh diện về anh lắm. Số phone tôi đây, tôi đang chửi anh đấy. 408-838-1176. Đồ mặt dày, cút đi.

Reply

Vu Dinh Kh. says:

05/03/2011 at 03:39

Gửi DCViet online;

Có những Nguồn nên Trích Đăng; và; có những Nguồn không nên Trích Đăng! Ngườii Làm Báo, nên suy xét khi Bài nào nên Trích, Đăng.

Tôi, Vũ Đình Kh. tuyên bố, từ nay không còn cộng tác với DCVieton line. Vũ Đình Kh./

(BBT: Cảm ơn sự góp ý của tác giả Vu Dinh Kh. Rất tiếc tác giả cộng tác lâu năm với Đàn Chim Việt Online đã tuyên bố như trên. Tuy nhiên, thiển nghĩ đề tài được nhiều người quan tâm vẫn nên trích, đăng, mục đích là cùng tìm ra con đường ngắn nhất, hợp lý và đỡ tốn xương máu nhất để dân chủ hoá VN. Chúng tôi vẫn quý mến và vẫn mong được sự cộng tác của tác giả).

*

Hai ý kiến của hai vị này rất là dứt khoát, phải không?

Theo ý kiến của chúng tôi, thì cái chiêu bài “mục đích là cùng tìm ra con đường ngắn nhất, họp lý và đỡ tốn xương máu nhất để dân chủ hoá Việt Nam” của Ban biên tập Đàn Chim Việt trả lời cho ông Vũ Đình Kh. coi bộ có vẻ… cường điệu hóa và là một vỏ bọc – như vỏ bọc của các đài phát thanh VOA, BBC, Á Châu tự do khi đăng tải các bài viết của các bloggers ưa viết bài với những lập luận dễ gây phản ứng của dư luận!

Dĩ nhiên họ có quyền làm như thế vì ở đây là xứ của tự do, dân chủ!

Theo ý kiến của chúng tôi, đây chỉ là một cuộc tranh cãi vô ích, nếu không muốn nói là có mục đích “làm giảm bớt” sự quan tâm của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại đối với các cuộc xuống đường đang được phát động khắp nơi ở hải ngoại cũng như ở trong nước.

Tuy nhiên, cũng như văn hào Voltaire đã nói: “Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói, nhưng tôi có thể chết để bảo vệ quyền anh được nói điều đó”. Ông Tiên Sa có quyền viết bài “Cờ này với cờ kia”, báo Đàn Chim Việt có quyền đăng bài viết đó của ông ta. Đó là nét đẹp của tự do, dân chủ. Và, tự do chẳng phải là điều mà bất cứ người cầm bút phải tranh đấu, hay sao?

+++

Cách đây nhiều năm, khi đến tổ chức hội thảo ở San José, ông Nguyễn Gia Kiểng, người cầm đầu nhóm Thông Luận ở Paris đã không tổ chức chào cờ. Bị các tham dự viên lên tiếng chất vấn, một người trong nhóm đã trả lời là “tạm cất lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để hoà giải hòa hợp với… ai đó”. Những người có theo dõi thời sự, ít ai ngạc nhiên về việc không chào cờ của ông Nguyễn Gia Kiểng và nhóm của ông ta vì ông ta là người đã kêu gọi nếu ai có về Việt Nam thì nên tới Ba Đình lạy lăng “Bác Hồ” để nói với hôm nay và mai sau là chúng ta đã quên hết hận thù [sic!]” Do đó, không ai ngạc nhiên gì khi ông trí thức ngông cuồng này đã chê bai “chế độ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ chỉ là bọn con cháu của cô Tư Hồng”. Đỉnh điểm của sự cuồng ngông của ông này là khi ông ta tung ra quyển sách “Tổ Quốc Ăn Năn” đã bị nhiều người phỉ nhổ!

-Khi có tranh luận về chuyện treo cờ ở trường đại học Fullerton, “nhà tranh đấu” Đoàn Viết Hoạt, nghe nói hiện nay là chủ tịch Viện Dân Chủ Quốc Tế (gì đó) về Việt Nam (?), “lên tiếng” đề nghị treo cả 2 lá cờ: Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và Cờ Đỏ Sao Vàng. Bị dư luận khắp nơi phản đối ông ta đã phải “xuống tiếng” giải thích đây chỉ là ý kiến của ông ta trong một cuộc thảo luận nội bộ.

-Khi bị tham dự viên trong vấn trong một buổi ra mắt sách tại San José vì sao không thực hiện việc chào cờ, ông Lê Xuân Khoa giải thích vì đó là do ý kiến của Ban tổ chức , chứ riêng cá nhân ông ta thì “lúc nào ông ta cũng mang lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trong tim”. Nhưng sau đó mấy tháng, khi về Việt Nam tham dự lễ khai trương Tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Sàigòn thì ông ta lại cài cái huy hiệu có Cờ Đỏ Sao Vàng và cờ Hoa Kỳ trên ve áo. Có người thắc mắc thì ông cho biết là ai vào dự lễ cũng phải đeo cái huy hiệu như vậy!

– Vào năm 2002, trong cuộc biểu tình chống Thượng nghị sĩ John Kerry vì ông này đã dìm chết dự luật nhân quyền HR 2833, bà Ngô Thị Hiền, chủ tịch của cái gọi là Ủy Ban Tự do Tôn giáo đề nghị “tạm dẹp Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” mà chỉ dùng cờ Hoa Kỳ thì cuộc biểu tình mới có kết quả [sic!]. Trước khi cuộc biểu tình xảy ra, bà Ngô Thị Hiền đã phổ biến một bài viết trên diễn đàn điện tử và đăng tải trên tờ Thời Báo ở San José để kêu gọi việc “tạm dẹp Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ”. Theo bài viết, đại ý bà Ngô Thị Hiền cho biết là bà đã căn cứ vào một thống kê của một cơ quan nghiên cứu của Mỹ (mà bà ta không cho biết tên), và tài liệu của một cơ quan phản gián (của VC) ở Hàng Bài. Nhận thấy đây là một âm mưu rất tham độc, chúng tôi đã lên tiếng trên tuần báo Tiếng Dân và báo động với Tiến sĩ Hà Văn Hải là trưởng ban tổ chức cuộc biểu tình. Do đó, âm mưu dẹp Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của bà Ngô Thị Hiền đã không thể thực hiện được. Vì chuyện lên tiếng này, tuần báo Tiếng Dân bị nhưng kẻ nặc danh viết thư gửi đến tất cả các thân chủ quảng cáo yêu cầu rút quảng cáo nếu không họ sẽ tẩy chay cơ sở thương mại của họ. Gần đây, qua tố cáo của chính một người hoạt động trong đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại do ông Ngô Ngọc Hùng, em của bà Ngô Thị Hiền chủ trương, người ta mới biết đài này có liên hệ với VC! Thì ra là vậy!

phản ứng điên cuồng khi nhiều thành phố, tiểu bang tại Hoa Kỳ ra quyết nghị công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Và trong các cuộc biểu tình tại hải ngoại người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản đều cầm Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ:

-Cộng đồng người Việt Quốc gia tỵ nạn cộng sản tại Nam California biểu tình chống ông Tony Lâm, cựu nghị viên kiêm Phó Thị Trưởng thành phố Westminster về hành động thân cộng của ông này cũng đã cầm Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ;

-Trong suốt 30 ngày biểu tình chống Davis Thomas khi họa sĩ này triển lãm 35 bức tranh vẽ về Hồ Chí Minh tại Oakland, cộng đồng người Mỹ gốc Việt lúc nào cũng cầm Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Có vị còn trải Cờ Đỏ Sao Vàng trên lối vào phòng triển lãm để khách vào tham dự sẽ phải giẫm chân lên những lá cờ máu này;

-Cộng đồng người Việt Quốc Gia tại Bắc California cũng cầm Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ khi biểu tình phản đối ông Willie Brown, cựu Thị Trưởng San Francisco bị Toà Tổng lãnh sư VC mua chuộc treo Cờ Đỏ Sao Vàng tại Toà Thị Sảnh và dùng quyền hạn phủ quyết nghị quyết Cờ Vàng mà Hội Đồng thành phố này đã biểu quyết;

-Trong suốt 60 ngày tại cuộc biểu tình của hơn 50 chục ngàn người biểu tình phản đối đài truyền hình SBS trình chiếu chương VTV-4 của VC, cộng đồng người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại Úc cũng đã cầm Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ…

Và trong tất cả cuộc biểu tình lớn, nhỏ, Cộng đồng người Việt lúc nào cũng tràn ngập những lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Do đó, bọn tay sai VC lúc nào cũng tìm cách triệt hạ lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là chuyện không có gì là lạ.

*

Thực ra đây không phải là chuyện ngẫu nhiên, hay là “tranh luận với mục đích tìm ra con đường ngắn nhất, họp lý và đỡ tốn xương máu nhất để dân chủ hoá Việt Nam” – như một tờ điện báo đã đưa ra như một chiêu bài khi đăng tải bài “Chuyện cờ này, cờ kia”. Đây chỉ là chuyện chưa có bò đã lo làm chuồng!

Thực ra đây chính việc làm của mạng lưới trí vận của CSVN tại hải ngoại.

Cách đây mấy tháng, chúng tôi có phổ biến bài viết “CSVN đã và đang dùng thủ đoạn “củi đậu nấu đậu” để chiếm lĩnh Cộng đồng người Việt tại hải ngoai”.

Xin trích lại một đoạn có liên quan đến lá cờ và chế độ Việt Nam Cộng Hoà như sau:

“Năm 1992, mạng lưới trí vận của CSVN tại hải ngoại đã đẩy mạnh chiến dịch “Hoa Hồng Xám” nhằm xóa bỏ tàn tích Việt Nam Cộng Hoà” và “nâng cấp quần chúng về cuộc cách mạng dân tộc”.

Các chặng xóa bỏ và nâng cấp gồm 3 bước:

–Bước 1, VC sẽ tạo dư luận quần chúng đồng hóa chính nghĩa tự do với chính nghĩa miền Nam; đồng hóa chính phủ miền Nam với tham nhũng; chuyển ý thức chán gét tham nhũng, thối nát sang chán ghét chế độ miền Nam. Từ chán ghét chế độ chuyển sang chán ghét toàn bộ những gì dính dáng đến chế độ như quốc kỳ, quốc ca, các ngày lễ Quốc khánh 1 tháng 11, ngày 19 tháng 6. Gây tư tưởng vô ơn, bội bạc trong giới trẻ ở hải ngoại đối với xương máu của thế hệ cha anh. Dè bĩu nỗ lực giữ nước của các thế hệ trước là “mặc cảm quá khứ”. Để thực hiện bước này, tay sai CSVN đã giả vờ tẩy chay cả hai dấu tích của cả hai chế độ Nam, Bắc. Thí dụ như hô hào tẩy chay cờ đỏ, không treo cờ vàng. Kỳ thực ở hải ngoại không ai treo cờ đỏ bao giờ, cho nên hô hào này có người nghe theo, CSVN sẽ triệt được lá Cờ Vàng, và vì Cờ Đỏ xưa nay không ai treo nên có mất cũng không sao…” (Trích trong bài “ CSVN chủ trương từng bước chiếm lĩnh cộng đồng Người Việt hải ngoại”.

Xin mượn trích đoạn trên để kết luận bài viết này.

Chuyện tranh cãi về hai lá cờ là một việc làm vô ích đối với đa số người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản; nhưng đây lại là việc phải làm của những kẻ có nhiệm vụ thực hiện chiến dịch “Hoa Hồng Xám” nhằm xóa bỏ tàn tích Việt Nam Cộng Hoà!


LÃO MÓC


KHỦNG HOẢNG NHÂN CÁCH




Cuộc đấu tranh giữa Quốc Gia và Cộng Sản là cuộc đấu tranh giữa Thiện và Ác, giữa sự Trong Sáng và sự Mờ Ám, giữa Lương Tâm và Vô Lương Tâm, giữa Sự Thật và sự Dối Trá. Nếu một ngày nào đó bọn cầm quyền Việt Cộng tuyên bố từ bỏ Chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng chúng vẫn duy trì cái Ác, cái Mờ Ám, cái Bất Lương, nói một đường làm một nẻo thì chúng ta càng chống mạnh mẽ hơn.
Nếu đoàn thể nào đội lốt người Quốc Gia, giương cao ngọn Cờ Vàng mà lại có những hành vi lưu manh y hệt như Việt Cộng thì chúng ta càng chống một cách khôn ngoan hơn, quyết liệt hơn, bởi nó sẽ vô hiệu hóa chúng ta bằng cách chụp cho chúng ta là tay sai Việt Cộng.
Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh, một sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dùng phương châm “cứu cánh biện minh phương tiện” của cộng sản để áp dụng trong tổ chức mệnh danh “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” (viết tắt: Mặt Trận). Tôi kịch liệt chống chủ trương bá đạo của ông Hoàng Cơ Minh, vì nó sẽ đưa đến sự tai hại cho Đất Nước chẳng khác gì Việt Cộng..
Khi sự phân hóa giữa ông Hoàng Cơ Minh và ông Phạm văn Liễu xảy ra, ông Nguyễn Xuân Nghĩa đứng về phía anh em Hoàng Cơ Minh, Hoàng Cơ Định, bởi vì anh em giòng họ Hoàng Cơ nắm hầu bao tài chánh, còn ông Phạm văn Liễu hữu dõng vô mưu, dùng ba tấc lưỡi quảng cáo láo để mang tiền về nạp cho anh em nhà Hoàng Cơ. Trong bài “Nguyễn Xuân Nghĩa Anh Là Ai?”, tôi đã đặt cho anh ta những câu hỏi, nhưng anh ta im lặng vì không thể trả lời. Nguyễn Xuân Nghĩa là cháu gọi Tổng Bí thư Việt Cộng Mười Cúc Nguyễn văn Linh bằng bác, có hành tung rất đáng nghi ngờ. Là một người ở lại Việt Nam sau năm 1975, cộng tác với Việt Cộng, Nguyễn Xuân Nghĩa được Việt Cộng sắp xếp ra đi chính thức, chắc chắn phải có mục đích. Tôi suy đoán Nguyễn Xuân Nghĩa vào “nằm vùng” trong Mặt Trận nhằm gây phân hóa nội bộ. Tôi gọi Nguyễn Xuân Nghĩa là “master mind” bởi vì anh ta thông minh hơn cái đám Hoàng Cơ Định, chỉ có tính tham mê tiền, giỏi trò tiểu xảo, chứ không có mưu lược và đạo đức. Nếu ai có dịp đọc cương lĩnh, điều lệ, cách tổ chức đảng Việt Tân thì sẽ thấy nó rập khuôn cương lĩnh, điều lệ của đảng Việt Cộng. Hoàng Cơ Minh say mê làm lãnh tụ nổi tiếng như Hồ Chí Minh – tên tội đồ dân tộc – bắt chước cách ăn mặc và diện mạo, nên dễ bị Nghĩa cho vào tròng.
Hoàng Cơ Minh bí mật gặp gỡ Đại úy Thám báo Nhảy Dù Trương văn Út, biệt danh Út Bạch Lan, để yêu cầu anh thành lập biệt đội Ký Con cho Mặt Trận. Ký Con là đảng viên Quốc Dân Đảng, từng ám sát nhiều tên Thực dân Pháp và tay sai. Người sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa Trương văn Út đã từ chối. Nếu nhận lời, anh đã phạm tội giết người và chắc chắn sẽ bị FBI điều tra. Chủ trương ám sát kẻ chống đối phát xuất từ Hoàng Cơ Minh, chứ không phải Phạm văn Liễu. Nguyễn Xuân Nghĩa đổ tội đội ám sát K-9 do ông Phạm văn Liễu thành lập gồm các phần tử đặc biệt là không đúng sự thật. Tôi cho đó là sự vu cáo bất lương đối với người đã qua đời không thể lên tiếng phản bác. Đại tá Trần Minh Công, phát ngôn viên của Mặt Trận HCM, cần phải lên tiếng để thanh minh cho người đã khuất.
Ông Nguyễn Đạm Phong là nhà báo đầu tiên lên tiếng sự lừa bịp của Mặt Trận HCM. Ông đã bị Mặt Trận cảnh cáo, đe dọa, nhưng ông vẫn dũng cảm tiến bước điều tra. Tôi cảm phục ông Nguyễn Đạm Phong, mặc dầu ông không phải là cựu quân nhân VNCH, nhưng ông xứng đáng là một chiến sĩ Quốc Gia theo đuổi lý tưởng mà Miền Nam đã chiến đấu ròng rã trong 21 năm (1954 – 1975).
Tại sao Mặt Trận HCM có thể tự tung tự tác trên một xứ sở tôn trọng pháp luật? Tại vì Mặt Trận HCM nhận thấy những cơ sở thương mại, những tư gia của người Việt bị cướp mà không dám tố giác cho cảnh sát. Do đó, Mặt Trận tha hồ thực hiện những hành vi của bọn cướp. Một câu hỏi khác phải đặt ra. Tại sao những đảng chính trị như Đại Việt, Việt Quốc, những đoàn thể quân nhân chủ trương tiêu diệt cộng sản lại im lặng trước hành vi thảo khấu của Mặt Trận HCM? Có phải quý vị cũng sợ hãi giống như những thường dân lương thiện sợ Mặt Trận HCM uy hiếp? Chẳng lẽ quý vị chỉ đòi tiêu diệt Việt Cộng ở trong nước, mà lại phớt lờ những hành vi cướp bóc của Mặt Trận HCM tại nơi mình đang sinh sống? Vậy người ta cười chê quý vị Chống Cộng bằng mồm thì đâu có sai?
Ai cũng nói đảng Việt Cộng là một đảng cướp của giết người. Không! Đảng Việt Cộng tồi bại hơn đảng cướp. Bởi vì đảng cướp đời thường không nhân danh Tổ Quốc, Dân Tộc để đi ăn cướp. Đảng Việt Tân cũng giống đảng Việt Cộng, cũng nhân danh Tự Do, Dân Chủ, bày ra những trò gây quỹ bịp bợm để giúp những nhà đấu tranh cho quyền làm người ở Việt Nam, để “Cám Ơn Anh” rất xôm tụ nhưng chủ đích là bỏ tiền vào túi riêng. (Cám ơn N. T. Tú đã tìm ra bằng chứng ăn cắp của Việt Tân).
Năm 1954, Trung Cộng giúp Việt Cộng nhân lực và vũ khí tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà bộ máy tuyên truyền Việt Cộng gọi là chấn động địa cầu. Hồ Chí Minh và đồng bọn biến nhân dân trên một nửa nước thành súc vật bằng nền chuyên chính vô sản: Có đầu nhưng không được nghĩ đến tư tưởng gì khác ngoài tư tưởng Mác-Lê; có mồm nhưng không được nói điều gì khác ngoài điều đảng dạy cho nói và gắt gao kiểm soát bao tử. Do chính sách đó, người dân trở nên hèn, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ đói, nhân cách dần dần bị mất hẳn. Bởi vậy, những người trí thức bồi bút như Vũ Khiêu, những cách mạng lão thành như Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh tới giờ phút này vẫn ca ngợi tên tội đồ Hồ Chí Minh một cách trơ trẻn, vì nhân cách làm người cả hai hạng người đó đều không còn.
Miền Nam vừa thoát ra khỏi tình trạng nô lệ Thực dân Pháp, nền dân chủ tuy đang phôi thai, nhưng nhân phẩm con người không hề bị chà đạp. Thế mà lại nẩy sinh ra một số hạng người không có nhân cách. Chẳng hạn, Ngoại trưởng Vũ văn Mẫu là người rất được Tổng thống Ngô Đình Diệm kính trọng. Lúc nào Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng gọi ông Mẫu bằng Ngài. Khi cái gọi là Phong trào Tranh đấu Phật giáo mới nổi lên, Vũ văn Mẫu liền phản bội, cạo trọc đầu để chống chế độ. Trí Quang liên tục chống phá, gây bạo loạn cho tất cả chính quyền sau đó, kể cả chính quyền Phật giáo Phan Khắc Sửu – Phan Huy Quát, chính quyền “Con Cầu Tự Chùa Hương” Nguyễn Cao Kỳ. Nhưng Vũ văn Mẫu không nhìn ra Trí Quang là tên giặc Thầy Chùa, vẫn bưng tráp chạy theo làm tay sai “Thầy” Trí Quang cho đến lúc được làm Thủ tướng một ngày vào cuối Tháng Tư năm 1975. Những tên trí thức chạy theo Việt Cộng, những tên ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng Sản để giật sập chế độ Việt Nam Cộng Hòa khiến cho dân tình khốn khổ dưới tay lũ quỷ cộng sản, Đất Nước sắp lọt vào tay Tầu Cộng mà bọn chúng không hề có một hành động hay một lời nói sám hối. Bọn người này tôi gọi là bọn vô nhân cách!
Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh lập ra cái đảng Kháng Chiến cuội, đánh lừa lòng yêu nước và niềm tin của những người Chống Cộng, thi hành chủ trương khủng bố để bịt miệng những người lên tiếng tố giác sự lừa đảo. Mặt Trận tan vỡ vì sự “ôm trọn gói” đống tiền bất chính quyên góp được, vì lòi ra sự dối trá về 36 tổ chức, 10 ngàn quân kháng chiến; chứ không vì khác chủ trương hay đường lối. Lẽ ra, những người Chống Cộng, yêu nước trót tham gia Mặt Trận HCM phải có hành động như Thiếu tá KQ Đào Bá Hùng – bút hiệu Đào  Vũ Anh Hùng – là lên tiếng tố giác hành vi bịp bợm, lừa đảo của anh em nhà Hoàng Cơ để bảo vệ chính nghĩa trong sáng của người quốc gia yêu nước mới phải.
Nhà văn Đào Vũ Anh Hùng viết bài “Vàng Rơi Không Tiếc” gửi cho những tờ báo có chủ nhiệm, chủ bút vốn là bạn tâm giao đồng nghiệp của tác giả trước năm 1975, nhưng không một chủ nhiệm, chủ bút nào dám đăng cả. Tôi phụ trách tờ Lý Tưởng, giai phẩm Không Quân VNCH, đã chấp nhận đăng, liền bị Mặt Trận HCM khủng bố, đe dọa và đòi tịch thu báo. Lúc bấy giờ là năm 1988, trong khi “lãnh tụ” Hoàng Cơ Minh đã đền tội tại vùng biên giới Thái Lào từ năm 1987, nhưng Mặt Trận vẫn giữ hành vi khủng bố bất cứ ai dám nói lên Sự Thật. Tờ báo Kháng Chiến đều đều đăng thư “Chiến hữu Chủ tịch” từ trong nước gửi ra thăm hỏi đồng bào và các cháu nhi đồng ở hải ngoại vào dịp Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu để gây quỹ nuôi 10 ngàn quân kháng chiến ma! Và mô tả những trận đánh ác liệt của Kháng Chiến Quân triệt hạ các đồn Công An Việt Cộng hết sức ngoạn mục, giống như Xi Nê... Ma!
Tôi hỏi anh Nguyễn Ngọc Bích, một nhà truyền thông đang làm Giám đốc chương trình Việt ngữ của đài RFA: “Anh biết Việt Tân thoát thai từ Mặt Trận HCM, một tổ chức kháng chiến bịp bợm, tại sao anh cất công dịch những tài liệu huấn luyện cán bộ sang Anh ngữ cho Việt Tân? Anh có biết anh làm như vậy là tiếp tay với bọn lừa đảo? Là đầu độc tuổi trẻ Việt Nam”? Anh Bích đã biện bạch rất yếu về việc thông đồng với Việt Tân. Tôi không còn sự cảm mến anh Nguyễn Ngọc Bích như trước!
Chúng ta mất nước là mất toàn bộ các quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp. Nhưng còn một thứ quyền rất quan trọng: Đó là quyền Ngôn Luận để phụng sự chính nghĩa mà chúng ta đã bảo vệ suốt 21 năm ở Miền Nam. Tại sao người làm Truyền Thông không nhận thấy mình đang mang một sứ mạng nặng nề trên vai là chống lại bọn nhân danh “Giải Phóng Việt Nam” để lừa bịp đồng bào? Phải chăng người làm Truyền Thông đã  mất hết lương tri chức nghiệp để biến thành kẻ không còn nhân cách?
Năm 2015, nhà báo Hoa Kỳ AC Thompson thực hiện cuốn phim “Terror In Little Saigon” (Kinh Hãi Tại Little Saigon) để phanh phui tội ác của Mặt Trận HCM. Lẽ ra các nhà làm Truyền Thông và Cộng Đồng phải lên tiếng cám ơn AC Thompson đã giúp mình vượt qua sự sợ hãi để có hành động xứng đáng với tư cách người công chính đứng về phía chống lại CÁI ÁC mới phải chứ!
Đầu năm 2015, nhân vụ nhà báo Charlie Hebdo bị quân khủng bố giết chết, có hơn 40 lãnh tụ trên thế giới đến Paris, nắm tay nhau, cùng giương cao tấm biển “Je Suis Charlie” để ùng hộ người mới qua đời, tôi viết bài “Je Suis Charlie” để kể lại việc tôi bị Mặt Trận khủng bố vì đăng bài “Vàng Rơi Không Tiếc” và hài tội các ông Hoàng Cơ Định, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Xuân Ninh Nguyễn Kim Huờn. Tôi gửi bài viết của tôi đến các báo có đông độc giả như Người Việt, Việt Báo, Việt Mỹ … nhưng không tờ báo nào  đăng. Không phải tôi muốn bài viết của tôi được đăng trên báo giấy, vì đã có mạng lưới toàn cầu Internet. Tôi chỉ muốn thử để biết các báo ấy có phải là tay sai của Việt Tân mà thôi. Tôi rất khinh những người làm Truyền Thông đã im lặng, không dám đăng tải lời tố giác của một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa về sự bạo hành và bất lương của một tổ chức Kháng Chiến Bịp. Trước kia, tôi cảm thông sự im lặng của truyền thông vì sợ sự khủng bố của băng đảng Hoàng Cơ Minh. Nhưng nay Việt Tân không dám sử dụng bạo lực như cái thời của Mặt Trận còn K-9, mà truyền thông vẫn im lặng, có phải vì họ đã nhận đồng tiền nhớp nhúa từ sự lừa đảo?  Tôi coi sự im lặng đó là đồng lõa với tội ác và đánh giá những hạng người làm Truyền Thông đó là bọn con buôn chữ nghĩa để kiếm cơm; chứ không có lý tưởng phụng sự SỰ THẬT.
Để ủng hộ tinh thần Nguyễn Thanh Tú đi tìm công lý cho cha, tôi đã tham dự cuộc họp báo của Tú vào ngày 15 tháng 3 năm 2017 tại Westminster và ngày 29 tháng 4 tại San José. Tôi muốn chứng tỏ tôi không vô cảm trước nỗi bất hạnh của người con có cha bị quân khủng bố giết trước mắt.
*
Kính thưa quý anh chị cựu chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,
Bọn cộng sản Miền Bắc đi xin súng ống, đạn dược của Nga Tàu, phát động cuộc chiến tranh xâm lăng phi nghĩa, nhưng núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc. Miền Nam tất nhiên phải cần đến sự trợ giúp của Hoa Kỳ để có phương tiện chống lại sự bành trướng của Đế quốc Đỏ. Đó là công cuộc tự vệ đầy chính nghĩa. Thế nhưng các lãnh đạo chính trị, tôn giáo, quân sự đã không đoàn kết với nhau để bảo vệ chính nghĩa. Cho nên bọn ngụy hòa, bọn đội lốt tôn giáo lợi dụng tình trạng chia rẽ đó để biểu tình đuổi Mỹ, kêu gọi Miền Nam buông súng mà không yêu cầu cộng sản rút quân về Bắc.
Quý chiến hữu đã chiến đấu hết sức anh dũng trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã, bởi vì vững tin vào chính nghĩa bảo vệ Miền Nam. Trong khi đó cấp lãnh đạo Quân, Binh chủng không dám đặt vấn đề với vị Tổng Tư lệnh về những sự việc làm nản lòng chiến sĩ. Vụ mua quan bán chức âm thầm còn giấu diếm được, nhưng vụ buôn lậu “Còi Hụ Long An” nổ ra ầm ĩ như thế mà cho đến nay không ai rõ Tướng Thiệu hay Tướng Khiêm là thủ phạm. Chúng ta mất chính nghĩa từ đó.
Mất nước, tất cả mọi người đều mang thân phận tị nạn, sống nhờ vào lòng hảo tâm của quốc gia tạm dung. Một ông Phó Đề đốc Hải quân lập ra cái tổ chức kháng chiến bịp bợm, lừa đảo, khủng bố bất cứ ai dám nói lên sự thật. Thế mà Hội đồng Tướng lãnh do ba ông Tướng Chung Tấn Cang (Hải quân), Dư Quốc Đống (Nhảy Dù), Trần văn Minh (Không Quân) đồng Chủ tịch, lãnh đạo hơn 80 ông Tướng trên khắp thế giới không hề hé răng yêu cầu Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh hãy chấm dứt trò khủng bố, lừa bịp khiến cho đồng bào mất niềm tin. Lúc bấy giờ tôi đã nêu lên câu hỏi: “Cùng mang thân phận tị nạn, quý vị Tướng lãnh đều không còn quyền lực, quyền bính, ngay cả quyền uy thì lấy tư cách gì để triệu tập Đại Hội Toàn Quân? Quân ở đâu ra? Nhưng nếu đã trót đặt ra Hội Đồng Tướng lãnh có hệ thống hàng dọc hàng ngang, tại sao không Tướng lãnh nào công khai lên tiếng cảnh giác Tướng Hoàng Cơ Minh làm Kháng Chiến Bịp là giết chết chính nghĩa Quốc gia?”
Ngày 30 tháng 9 năm 2007, cựu Trung tướng Phạm Quốc Thuần – SVSQ Khóa 5 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt – viết tâm thư cho Tướng Bùi Đình Đạm, đặt ra nhiều vấn đề, trong đó có việc ông Nguyễn Xuân Vinh loại trừ Tướng Lê Minh Đảo ra khỏi chức Chủ tịch Hội Đồng Đại Diện, nới rộng hoạt động của Tập Thể đến các Hội Đồng Hương và phối hợp với Việt Tân đổi Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư thành “VN Freedom March”. Tướng Bùi Đình Đạm im lặng, không thèm giải thích.
Từ năm 2003, nghe tin Tướng Bùi Đình Đạm và Tướng Nguyễn Khắc Bình – thủ hạ của Việt Tân – âm mưu đẩy ông Nguyễn Xuân Vinh – cựu Tư Lệnh KQ – ra làm Chủ tịch Tập thể Chiến sĩ, tôi đã gọi điện thoại khuyên ông Vinh không nên làm công cụ (tay sai) cho cái đảng Việt Tân bịp bợm. Nhưng ông Vinh bị con quỷ háo danh làm mê muội, nên cứ ôm cái chức Chủ tịch Tập Thể cho tới ngày hôm nay! Mặc dầu ông Vinh viết sách “Theo Ánh Tinh Cầu” ca tụng Bằng Phong Đặng văn Âu lên tận mây xanh, nhưng không vì thế mà tôi nhắm mắt trước sự kiện ông tiếp tay cho bọn lừa đảo, bịp bợm làm tiêu tan Niềm Tin của đồng bào. Tôi không vô lễ với cấp chỉ huy cũ. Vị đại tiền bối như Vua Lê Chiêu Thống mà rước “voi về dày mồ” vẫn bị hậu thế lên án về tội bán nước đấy thôi!
Trung tướng Phạm Quốc Thuần từng ủng hộ Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh lúc ban đầu, nhưng ông đã nhận ra những trò ma giáo của anh em nhà Hoàng Cơ Minh, nên ông đã bước ra và đã lấy tình chiến hữu để ngăn ông Bùi Đình Đạm chấm dứt a tòng, đồng lõa với băng đảng Việt Tân. Tướng Thuần là người có nhân cách lớn. Trong khi đó Tướng Nguyễn Khắc Bình, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh vẫn đắm chìm trong vũng bùn Việt Tân mà không chịu phục hồi nhân cách.
*
Kính thưa quý đồng chí Đại Việt, đồng chí Việt Quốc quý mến,
Trong quá khứ, hai đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng đã từng kết hợp với nhau thành Đại Việt Quốc Dân Đảng, nên tôi gọi anh em bên Việt Quốc là đồng chí, chắc chẳng có gì sai?
Tuy tôi ngưng sinh hoạt đảng đã khá lâu, nhưng lý tưởng “Dân Tộc Sinh Tồn” vẫn không hề phai. Hơn nữa, tôi còn là người lính VNCH, dù đã buông súng, nhưng tinh thần chống Việt Cộng không bao giờ lay chuyển. Bởi vì Việt Cộng chỉ làm cho dân tộc đau khổ và giống nòi mất nhân cách. Tôi tin rằng các đồng chí còn hoạt động trong đảng, ắt các đồng chí phải có tinh thần quyết liệt diệt Việt Cộng hơn tôi. Tôi mong rằng các đồng chí không thể nói với tôi rằng các đồng chí chỉ đặt trọng tâm lật đổ bạo quyền trong nước mà lại phớt lờ câu tuyên bố của ông nhạc sĩ Trúc Hồ: “Chúng ta không đòi lật đổ chế độ. Cái đó hoàn toàn sai …” như là một lời hiểu thị của cán bộ cộng sản cho người tị nạn phải thi hành. Các đồng chỉ hãy mở video clip này mà nghe (https://www.youtube.com/watch ?v=pbWlPNCDCz8)  thì sẽ nhận  thấy Trúc Hồ láo lếu cỡ nào. Nhiều thính giả gửi thư yêu cầu Trúc Hồ giải thích thì hắn không thèm trả lời. Thái độ ngạo mạn của Trúc Hồ như thế nhưng rất nhiều kẻ xum xoe theo hắn vì vẫn có nhiều kẻ thèm “micro” và thèm ánh đèn sân khấu.
Các đồng chí nên nhớ rằng các đồng chí đang hoạt động trong một tổ chức chính trị, có cương lĩnh, nội quy và có đưa tay tuyên thệ; chứ không phải hoạt động trong hội đồng hương, hội ái hữu để chỉ biết đặt nặng vấn đề ca hát với ngâm thơ! Chúng ta phải triệt hạ băng đảng Việt Tân để làm sạch cộng đồng.
Đảng Việt Tân có những đặc tính lừa đảo, bịp bợm như Việt Cộng và có đường lối hoạt động ma mảnh như Việt Cộng, nhưng nguy hiểm hơn Việt Cộng vì có những phần tử mang danh nghĩa quốc gia chống Cộng, nhưng vô tư cách, nên làm tay sai cho Việt Tân. Việt Cộng không thể đứng ra làm Chủ tịch Tập thể Chiến sĩ. Việt Cộng không thể đứng ra gây quỹ “Cám Ơn Anh”, Việt Cộng không thể lập Hội Chuyên Gia. Việt Cộng không thể lập đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu …
Nguyễn Thanh Tú – con trai ký giả Đạm Phong bị ám sát – điều tra rất công phu để đem ra ánh sáng công lý những tên bề ngoài mang danh chống Cộng nhưng thực chất là băng đảng Việt Tân, tức là Tú đã giúp cho các đồng chí hơn nửa chặng đường. Tôi đề nghị Đại Việt Cách Mạng, Tân Đại Việt và Việt Quốc nên thống nhất làm một giống như Đại Việt Quốc Dân Đảng trước kia để quần chúng thấy rõ các đồng chí thực sự có lòng yêu nước, yêu dân. Nếu các đồng chí chỉ lâu lâu tổ chức trình diện Ban Chấp Hành, viết vài ba cái Tuyên Ngôn, Tuyên Cáo lên án Việt Cộng có tính cách chiếu lệ, thì theo tôi, các đồng chí đang làm ô danh Đảng trưởng Nguyễn Thái Học, Đảng trưởng Trương Tử Anh đó!
Việt Cộng đang bán nước, làm nhục giống nòi, chúng ta không đủ sức lật đổ bọn chúng. Việt Tân cũng đang làm nhục người tị nạn vì chúng dùng tiền đóng góp của người tị nạn để làm công cụ cho cộng sản. Các đồng chí hãy dùng kinh nghiệm hoạt động đảng để biết rằng Việt Cộng luôn luôn dùng kỷ thuật “Blackmail” để điều khiển con mồi của mình. Việt Tân làm nhiều điều khuất tất, mờ ám, phản phúc là những yếu tố giúp cho Việt Cộng nắm đầu. Vì vậy, tôi xin báo động để các đảng chính trị, các đoàn thể tôn giáo (chống Cộng), các Hội Cựu Quân Nhân hãy bắt tay nhau triệt hạ băng đảng Việt Tân thì mới mong bảo vệ NÒI GIỐNG VIỆT đang trên đà diệt chủng.
Một nòi giống làm ngơ, lãnh đạm trước những hành vi tồi bại của bọn làm Kháng Chiến Bịp, chỉ biết say sưa với các màn trình diễn mang tính hình thức, chỉ chuộng trí thức dõm – bằng cấp thì to, nhưng trái tim thì nhỏ – đạo đức giả, mặc áo thụng vái nhau thì chắc chắn nòi giống đó sẽ tiêu vong. Bởi vì những người tử tế, người có nhân cách sẽ chối từ nhìn nhận mình thuộc giống dòng đó.
Chúng ta may mắn thoát ra khỏi hỏa ngục Đỏ Việt Cộng. Những người mang dòng máu Việt lưu vong  trên khắp thế giới giống như những sinh vật hiếm quý (endangered species) trong nhân loại mà không ai quan tâm bảo vệ. Vậy chính chúng ta phải tự bảo vệ NÒI GIỐNG VIỆT cho tổ tiên mà thôi!
Bảo vệ bằng cách nào? Xin thưa, bảo vệ bằng trau dồi NHÂN CÁCH, đừng vì lợi, vì danh mà a tòng với Việt Cộng, với Việt Tân là hai tổ chức tội ác, lừa bịp, dối trá, hô hào lý tưởng cao đẹp NHÂN QUYỀN – DÂN CHỦ, mà thi hành những thủ đoạn tồi bại, nhớp nhúa làm ô danh NÒI GIỐNG.
Nhân loại tiến bộ từ thời đại ăn lông ở lỗ đến thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại cơ giới, thời đại Internet… Nòi giống Việt phải tiến lên với đà văn minh nhân loại. Nhất định chúng ta không cho phép Việt Cộng hay Việt Tân đẩy chúng ta tiến tới THỜI ĐẠI ĐỒ ĐỂU !
Nhiệm vụ lớn lao đó không ai giúp chúng ta, mà chính chúng ta phải tự giúp mà thôi!
Bằng Phong Đặng văn Âu.  Ngày 6 tháng 5 năm 2017
Email address:  bangphongdva033@gmail.com
Điện thoại: 714 – 276 – 5600

CÃI NHAU NHƯ MỔ BÒ


Hồi nào tới giờ tôi cứ nghe người ta nói cãi nhau như mổ bò.
Thật tình sống ở thành phố, chưa bao giờ tôi được chứng kiến cảnh mổ bò như thế nào, nên cũng không hiểu tại sao khi mổ bò phải cãi nhau. Chắc là cãi nhau dữ lắm nên người ta mới ví như vậy.
Khi tuổi đã hườm hườm, con cái đi bốn phương tám hướng, chỉ còn lại hai “con khỉ già”. Tôi chợt nhớ tới câu ví trên, bỗng dưng tôi nhận thấy, có lẽ nên sửa câu trên thành “cãi nhau như hai con khỉ già” thì đúng hơn.
Tám năm trước khi qua tiểu bang khác để dự đám cưới con gái của cô bạn thân. Bạn bè chúng tôi đã mấy chục năm chưa gặp mặt. Nay nắm được bàn tay của bạn mình, miệng reo vui, nhưng trong lòng hụt hẫng. Thiệt tình không hiểu trong mắt bạn cũ, mình già như thế nào, chứ tôi rất ngỡ ngàng, không thể tưởng tượng được khi nhìn thấy một cái đầu bóng loáng chỉ còn lơ thơ vài cọng tóc của một anh chàng từng được mệnh danh là “người đẹp” của trường mình ngày xưa.
Đúng là mình chỉ thấy người khác già, chứ mình không thấy mình già, dù người nào cũng đứng trước gương mỗi ngày!
Bên ngoài thay đổi nhanh thì bên trong cũng thay đổi chẳng kém.Từ tính tình đến thói quen hàng ngày. Chỉ một điều duy nhất là ai cũng không chịu nhận mình thay đổi: đó mới là vấn đề của hai con khỉ già.
Việc đầu tiên sau đám cưới là khi đi ăn bên ngoài, chàng không cần phải móc ví để trả tiền. Đó là dấu hiệu dễ nhất để phân biệt một cặp nam nữ khi bước vào quán ăn hay nhà hàng. Lúc trả tiền là bạn biết ngay, họ đang bồ bịch hay đã cột vào nhau (tie the knot). Mấy ông chồng cứ việc ngồi ung dung xỉa răng: đã có người lo chuyện trả tiền. Hầu bao của mình bị lột hết rồi, có giấu diếm được chút nào thì còn để “bù khú” với mấy thằng đực rựa, lúc chén chú chén anh. Chứ chén (với) em thì để em trả. A penny save is a penny gain.
Phục vụ cho cặp tình nhân, bồi sẽ được tip kha khá, chứ lấy nhau rồi họ cho ít xỉn. Cô tiếp viên ở quán ăn đang than thở với cô bạn thợ tóc, thì cô này cũng xua tay đồng tình: khỏi nói, mấy ông khách hồi còn độc thân mỗi lần cắt tóc cho nhiều tip. Lấy dzợ rồi cắt đi phân nửa. Có phải thế không quí vị đàn ông?
Hết đám cưới bạc tới đám cưới vàng, cặp uyên ương ngày xưa tình tứ lãng mạn bao nhiêu, thì bây giờ lãng nhách bấy nhiêu.Chẳng còn ca tụng tình em như tuyết giăng đầu núi, vời vợi muôn thu nét tuyệt vời.
Tuyệt vời gì nổi, khi bà thử cái áo mới mua về. Hí hửng hỏi: ông thấy có đẹp không? Không khen thì chớ, ông lại buông nguyên một gáo nước lạnh: 20 năm về trước.
Bữa khác ông quên bẵng câu trả lời của mình hôm nào. Cũng hí hửng khoe bộ cánh mới mua, và hỏi bà, chứ hỏi ai bây giờ. Bà chẳng thèm nhìn, chỉ phán một câu: trông như con bú dù!
Thế là huề, ăn miếng trả miếng.
Các cô gái Việt ngày xưa thường lấy chồng lớn tuổi hơn mình, vì chê con trai bằng tuổi coi như em út. Tới tuổi về hưu, mấy ông chồng ở nhà, còn mình vẫn phải đi làm. Mới chợt nhớ sao mấy con nhỏ Mỹ làm chung, đứa nào cũng già hơn chồng cả chục tuổi, và tụi nó rất hãnh diện về điều này. Khi nghe nói chồng hơn 10 tuổi, có đứa buột miệng: sao lấy ông già?
Về nhà kể cho chồng nghe: con gái Mỹ khôn thiệt, lấy chồng trẻ mai mốt mình về hưu sớm, ông chồng vẫn phải đi cày.

Ông chồng già với bộ mặt khinh khỉnh trả lời: không phải đâu bà ơi, nó phải cày chuyện khác cho lâu đó mà. Càng lâu càng tốt. Bà không nghe bây giờ ở VN, người ta nói “Phi công trẻ lái máy bay bà già đó sao?”, cứ gì con gái Mỹ trâu già mới thích gặm cỏ non.
Bà thì nói ông không nghiêm chỉnh, ông thì bảo tự dối lòng, không thực tế. Ông mang chuyện hồi xuân của mấy bà ra làm chứng, bà bảo ông là đệ tử của hồi giáo, toàn nghĩ chuyện cà chớn. Thế là lại cãi nhau. Thật sự ra bà biết các ông hết thời oanh liệt nên gặp nhau cứ than thở chuyện “gãy súng”. Mấy ông bảo Cao Xuân Huy nói “tháng Ba gãy súng” là không đúng. Súng vẫn còn, chỉ tịt ngòi vì thiếu đạn thôi. Những năm tháng tù đày trong lao tù Cộng Sản đã làm cho mấy ông xót xa cho người vợ trẻ ở nhà “ Xuân đời chưa hưởng kịp, mây mùa Thu đã sang”.

Đối với các ông, sự thiếu hụt chuyện gối chăn là điều quan trọng nhất. Mặc dù các bà luôn luôn gạt đi, nhưng các ông vẫn bị ám ảnh về chuyện này.
Khi già người ta sẽ trở thành trẻ con. Nhưng không phải trẻ ngoan, mà là trẻ cứng đầu. Một trong những nguyên nhân làm cho hai con khỉ già cãi nhau rất dễ dàng: đó là lúc có người bắt đầu nghễnh ngãng và đãng trí.

Trước khi ra khỏi nhà bà dặn ông: khi máy giặt ngừng, nhớ bỏ vào máy sấy. Tới chiều về, quần áo vẫn y nguyên trong máy giặt.
Nếu dặn, ông bảo không nghe. Lần sao, rút kinh nghiệm viết giấy. Chiều về vẫn không thấy quần áo trong máy sấy, nếu hỏi thì trả lời quên, hoặc có đọc nhưng không hiểu.
Cái cứng đầu bướng bỉnh của người già mà người ta gọi là chướng, xảy ra thường xuyên. Ông thích cởi trần vào mùa hè, có khi chỉ mặc cái quần xà lỏn. Bà ca cẩm: nhìn ông cởi trần tôi thấy choáng cả người. Ông đủng đỉnh nói: sao ngày xưa khi bà ghé nhà trọ, lỡ thấy tôi cởi trần, bà bảo choáng váng mặt mày. Bà xí một tiếng thật dài: khốn nỗi nó không có lòng thòng như bây giờ.
Ông cũng trả miếng: “núi” Phú sĩ Sơn ngày xưa bây giờ nó thành mả Đạm Tiên rồi bà ơi? Chưa kể bây giờ nó còn “bên thấp bên cao” bèo nhẻo bèo nhèo. Thiệt tình nghe mà tức anh ách. Vậy mà hồi đó ca tụng “ngực thơm hoa bưởi, môi hôn bão về”.
Chúng ta đừng tưởng đám hậu sinh bây giờ mới có chuyện “trả treo” nhau.
Cụ bà Tú Xương cũng móc cụ ông nhẹ nhàng, khi được hỏi: bà thấy thơ của tôi có hay không?
Cụ bà nói ngay: rằng hay thì thật là hay. Không hay sao lại đậu ngay tú tài.
Bà Tú quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng, là người đàn bà Việt Nam tiêu biểu.

Chồng tôi áo rách tôi thương
Chồng người, áo gấm, xông hương, mặc người.

Không phải ai cũng có người để cãi nhau. Khi một người ra đi họ mới thấy cãi nhau như hai con khỉ già là điều hạnh phúc . Ít ra họ cũng cùng nhau bước đi trong cuộc đời mấy chục năm.
Bà chợt nhớ tới bài thơ đôi dép, sao mà hay thế.

ĐÔI DÉP

Bài thơ đầu tiên anh viết tặng em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ

Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung, xuống cát bụi cùng nhau

Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng kẻ khác
Số phận chiếc này phụ thuộc ở chiếc kia

Nếu một ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở thành khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng đời sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu

Cũng như mình trong những lúc vắng nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Đôi dép vô tri khắng khít song hành
Chẳng thề nguyện mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi

Không thể thiếu nhau trên bước đường đời
Dẫu một chiếc ở một bên phải trái
Nhưng tôi yêu em ở những điều ngược lại
Gắn bó nhau vì một lối đi chung

Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
Chỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia…


Nguyễn Trung Kiên

Hai con khỉ già dẫu có cãi nhau suốt ngày, nhưng trong thâm tâm họ vẫn biết mình hạnh phúc. Như đôi dép cùng đôi, như chim liền cánh, như cây liền cành. Cho tới khi tan đàn xẻ nghé, chỉ còn lẻ loi một mình.
Lênh đênh chiếc bách giữa dòng
Thương thân goá bụa, phòng không lạnh lùng.
“Mọi thay thế sẽ trở thành khập khiễng” khi một người đã ra đi.
Và ngày đó người còn lại sẽ thèm được cãi nhau, dù biết lẽ vô thường của cuộc đời. Chuyện gì cũng cãi nhau, ngay cả chuyện đòi đi sau đi trước.

Khi vui thì muốn sống dai
Khi buồn thì muốn thác mai cho rồi.

Thế thì nắm tay nhau say goodbye cùng một lúc, là điều lý tưởng nhất. Khỏi mất công tị nạnh ai sướng đi trước, ai khổ đi sau.
Dù ngày xưa có thề non hẹn biển. Đi cùng nhau cho đến hết cuộc đời. Đã vượt qua bao thử thách để gây dựng cuộc đời từ những ngày cơ cực hàn vi.

Thương nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.
Bây giờ ông (bà) bỏ tôi đi
Mình tôi cô quạnh nắng mưa với đời.

L. T. M.

Bài Xem Nhiều