We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 30 May 2017

Vầng Trăng Xưa Ðã Chết Rồi Sao?

Image result for Vầng Trăng Xưa Ðã Chết Rồi Sao?

Nhặt lá vàng xưa!

Sau nhiều năm tha hương, tôi thường băn khoăn với ý tưởng: Những vầng trăng cũ đã thực sự chết rồi chăng? Phải chăng người Việt chúng ta đã bắt đầu quên cái thú ngắm trăng vì tiêm nhiễm đầu óc thực tế máy móc của Tây phương nên khó mà cảm nhận cái biểu tượng sâu sắc của vầng trăng nói chung và vầng trăng thu nói riêng như tổ tiên dân Á Đông cổ truyền trong đó có ta vốn theo nền văn hóa Âm lịch.
Cách đây 35 năm, vào tháng 7 năm 1969, phi hành gia Mỹ Neil Armstrong đã đặt chân lên nguyệt- cầu và khám phá ra trên đó chỉ toàn là núi đá và những bình nguyên mênh mông mà nhìn từ trái đất lên cứ nghĩ là biển, nhiệt độ thay đổi từ – 180 độ C đến + 110 độ C.  Tản Đà (1889 – 1939) nếu thọ thêm 30 năm, chắc không còn thi hứng “Muốn làm Thằng Cuội” nữa: 
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần giới em nay chán nữa rồi.
Cung Quế đã ai ngồi đó chửa?Cành đa xin chị nhắc lên chơi...
Như vậy, khoa học thám hiểm đã giết chết những vầng trăng cũ trong tâm thức con người sao?
Tôi nghĩ rằng không! Con người Việt Nam hiện đại chấp nhận Dương lịch làm lịch chính thức, nhưng trong thâm tâm  huyền bí, người ta  vẫn theo Âm lịch như ăn Tết, cúng bái, kỵ giỗ, kiêng cữ , bói toán tử vi ... và nhất là còn ngắm trăng, mừng trăng và làm thơ cùng triết lý về  trăng.
Ai đâu trở lại mùa thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng.
Những chiếc lá vàng mà chúng ta tìm nhặt lại khi trở về quá khứ chính là những mảnh trăng xưa mà tôi kể dưới đây. 
Vầng trăng âm lịch
Vầng trăng rất quan hệ đến sinh hoạt, tính khí và sinh lý của vạn vật  trên mặt đất qua hiện tượng thủy triều và ảnh  hưởng huyền bí trên mùa màng cây cỏ.
Về hình dáng và thời điểm xuất hiện của vầng trăng trong tháng được nhà nông kể thuộc lòng theo vần theo điệu như sau: Mồng một lá trai, Mồng hai lá lúa, Mồng ba câu liêm, Mồng bốn lưỡi liềm, Mồng năm liềm giật, Mồng sáu thật trăng, Mười rằm trăng náu, Mười sáu trăng treo, Mười bảy sảy giường chiếu, Mười tám trăng lẹm, Mười chín dụn dịn, Hai mươi giấc tốt, Hăm mốt nửa đêm, Hăm hai bằng tai, Hăm ba bằng đầu, Hăm bốn bằng râu, Hăm lăm bằng cầm, Hăm sáu đã vậy, Hăm bảy làm sao, Hăm tám thế nào, Hăm chín thế ấy, Ba mươi không trăng.
Nông gia còn có những câu sau để tiên đoán việc nông tang:
Muốn ăn lúa ré, xem trăng rằm tháng giêng,
Muốn ăn lúa tháng năm, xem trăng rằm tháng tám
Muốn ăn lúa tháng mười, xem trăng mồng tám tháng tư
Ở Việt Nam, các vị túc-nho trước đây cũng quan sát thiên văn trong sự ngắm trăng thu: Trăng sáng tỏ là điềm được mùa lúa sắp tới, trăng vàng đẹp là tằm sản xuất nhiều tơ. Màu sắc Trăng xen hơi lục hay xanh là triệu chứng đói rét. Trăng vằng vặc ửng sắc da cam là dấu chỉ thái bình thịnh trị. Trăng lấm tấm chấm đỏ là điềm giới lãnh đạo quốc gia bất lương u muội. Trăng lợn cợn nhiều hình nanh vút là điềm binh hỏa.
Vầng trăng mở hội liên hoan
Ngày rằm Trung thu rơi vào tiết Thu phân nên khí Âm và Dương điều hòa với đêm ngày bằng nhau. Bầu trời quang đãng, khí hậu ôn hòa nên người ta cảm thấy dễ chịu nhất trong năm. Hơn nữa, thu là mùa lúa chín, nên việc đồng áng rảnh rỗi. Đây là dịp “ăn mừng vầng trăng tập thể “một cách cụ thể của tục lệ xã hội trong cảnh liên hoan náo nhiệt với tục rước đèn, múa lân, trong vị ngọt hương trà của tục ăn Nguyệt bính. Do đó, cá nhân  không hẳn đã lấy con mắt và tâm hồn mà “ ngắm trăng” đúng nghĩa. 
Vầng trăng của tâm thức
Người xưa đã ngắm trăng ra sao? Tại sao tôi nói “người xưa”? Vì “người thời nay” đã thị-thành hóa, cơ khí hóa, tự động hóa... đã không còn dịp sống với  vầng trăng. Thời khóa biểu làm việc chật vật, những ngõ hẻm chật chội, những cao ốc hộp diêm, những đèn đường sáng trưng... đã làm người ta quên mất trăng! Còn người xưa Á Đông sống theo văn hóa âm lịch thì vầng trăng hiện diện theo từng lớp tuổi:
* Với  nhi đồng là vầng trăng của bài ca “Ông giẳng, Ông giăng ...”, của những chuyện kể thần thoại về  “Thằng cuội,” “Hằng Nga,” “Thiềm thừ,” “Cung Quảng”; của những trò chơi “Thả đỉa ba ba,” “Rồng rắn Ông thầy,” Phụ đồng chổi... thổi lổi mà lên” dưới ánh trăng vàng vằng vặc.
* Với lứa tuổi nam nữ yêu đương là những vầng trăng thề, trăng chia phôi, trăng nhớ nhung, trăng khắc khoải... Cuốn Kiều 3522 câu lục bát chỉ nhắc đến hai ba chữ “nắng” nhưng đã nhắc đến 38 chữ “trăng” với bao nhiêu sắc vẻ trữ tình như trăng bạc, trăng già, trăng gió, trăng hoa, trăng khuyết, trăng mới, trăng tà, trăng tàn, trăng thâu, trăng thề, trăng tròn...
Nếu trong Kiều, câu tha thiết nhất là: Trăng thề còn đó trơ trơ, Dám xa xôi mặt, mà thưa thớt lòng  thì trong Chinh Phụ ngâm, có những câu “Trăng khuya nương gối, bơ phờ tóc mai,”  “ Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa, dưới nguyệt trong lòng xiết đâu,” ”Xông pha gió bãi trăng ngàn, Gươm treo đầu ngựa, giáo lan mặt thành” và “Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi”  đã làm cho tơ lòng ta chùng hẳn lại vì  thương cảm.
Vầng trăng thiên cổ của người xưa
Riêng về lớp tao nhân mặc khách Á Đông thì “vầng trăng thiên cổ” là cả một nguồn thi hứng để cảm hoài sáng tác. Họ đã ca tụng trăng khi nghe đờn hát của đám ca nhi, khi tiệc tùng chè chén, khi ngắm hoa, khi lên núi cao, khi dong thuyền trên sông nước.... Nhiều áng văn nổi tiếng của các thi hào Trung Quốc đã được sáng tác dưới trăng :
- Trong bài Tương tiến tửu, thi  bá Lý Bạch khuyến khích người ta: Nhân sinh khi đắc ý nên càng, Khôn nỡ để chén vàng trơ dưới nguyệt.
- Trong Tỳ bà hành (mùa thu năm 816 CN), Bạch Cư Dị đã tả: Thuyền không đậu bến mặc ai, Quanh thuyền trăng giãi, nước trôi lạnh lùng.
-  Tô Đông Pha trong hai bài Tiền Xích bích phú và Hậu Xích bích bất hủ sáng tác vào mùa thu năm Nhâm Tuất (năm 1082) đã tạo một ảnh hưởng sâu đậm trên những thi sĩ của Việt Nam thời trước với tinh thần khinh khoái của tư tưởng Lão Trang mà chúng ta có thể coi như một thứ triết lý hiện sinh cổ thời. Trên cảnh sông nước Trường giang dưới ánh trăng thu, Tô Đông Pha đã luận về thân phận phù du của con người trong vũ trụ mênh mang bất diệt để kết luận với cái triết lý hưởng lạc trước mắt trong kho tàng thiên nhiên vô tận :
Nước kia vẫn xuôi giòng chẩy xiết,
Mà chưa từng đi hết chút nao!
Trăng kia có lúc đầy hao,
Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm
Cứ lúc biến mà xem trời đất,
Thì chẳng qua chớp mắt mà thôi.
Cứ khi không biến mà coi,
Thì ai ai cũng lâu dài như nhau
...
(Tiền Xích Bích Phú dịch nôm của Đào Nguyên Phổ)
Đọc lại cổ thi Việt, hậu sinh gặp những bài ca trù ngâm phong vịnh nguyệt hàm chứa cái quan niệm triết lý nhân sinh Lão Trang của Trung Hoa như:
- ...Thảnh thơi gió mát trăng trong, Bức tranh sơn thủy một vùng cỏ hoa. Thú này ai dễ hơn ta (trích Của kho vô tận - Nguyễn Quí Tân)
- ...Rượu một bầy, thơ ngâm một túi; Góp gió trăng làm bạn với non sông; Núi kia tạc để chữ đồng, Trăng kia nhớ mặt anh hùng này chăng? (Núi cao trăng sáng của Cao Bá Quát)
- ...Sẵn non sông kia với gió trăng, Mượn cảnh trí thung thăng là sở thích (Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ) 
Vầng trăng trữ tình trong thơ mới
Vầng trăng thiên cổ của cổ nhân là “vầng trăng ước lệ” với từ ngữ cô đọng theo khuôn sáo. Cho đến khi phong trào thơ mới nở rộ ở Việt Nam thời tiền chiến, thì “vầng trăng trở nên trữ tình” bắt đầu len lỏi trong tâm hồn và dàn trải ra theo từng giai điệu của mỗi thi nhân.
Còn lưu luyến với tứ thơ cổ điển, Quách Tấn viết: Một luồng sương bạc bỗng từ mô, Lẻn cuốn vầng trăng cuốn mặt hồ (Đà Lạt đêm sương) . Đến Lưu Trọng Lư thì trăng vẫn là trăng cổ điển mộng mơ một trời kỷ niệm: Vầng trăng từ độ lên ngôi, Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ... (Vần thơ sầu rụng). Nhưng đối với Xuân Diệu thì  trăng lên đến đỉnh cao và lộ ra nhiều sắc vẻ hơn cả: 
-  Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ  (Trăng - Thơ Thơ) 

- Sương nương theo trăng ngừng lưng trời,
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Nhị hồ - Thơ Thơ)

- Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần (Nguyệt cầm - Thơ Thơ) 
Cuối cùng, đến với Hàn Mặc tử thì Trăng trong hồn thơ bệnh lý điên loạn của ông hoàn toàn không còn là ánh sáng nguyệt cầu của phàm nhân nữa mà là một thực thể để ông ôm, ngủ, ngậm hớp, cắn, sờ sẫm: 
- Bóng nguyệt leo song sờ soạng gối (Đêm không ngủ)
- Hôm nay có một nửa trăng thôi, Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi (Một nửa trăng)
-Trăng nằm sõng soãi trên cành liễu
... Trần truồng tắm, Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe. (Bẽn lẽn)
- Cả miệng ta, trăng là trăng (Một miệng trăng) 
Tìm đâu lại ánh trăng  xưa?
Sống vào đầu thế kỷ 21 trong một xã hội hiện đại, chúng ta có thể tìm lại trăng không? Tôi nghĩ vầng trăng tâm thức vẫn còn nếu ta biết cách tìm lại. Cách đó là tìm học lại chữ Nhàn trong triết lý Á Đông qua lời thơ ca trù của Nguyễn Công Trứ. 
Thị tại môn tiền náo,
Nguyệt lai môn thị nhàn *
So lao tâm, lao lực một đoàn
Người nhân thế muốn nhàn sao được?
Nên phải lấy chữ Nhàn làm trước,
Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài! 
Chợ họp trước cửa thì huyên náo, Trăng soi trước cửa thì thanh nhàn.
Chiết tự chữ Nho thì chữ Thị là chợ viết trong chữ Môn là cửa đọc thành chữ Náo; Chữ Nguyệt ở trong chữ Môn là chữ Nhàn. Đúng thế, nói bóng bẩy, nếu chúng ta biết  tạm dẹp “cái chợ lý trí” trong đầu óc chúng ta đầy rẫy với bao cơ mưu toan tính sau những giờ làm việc để cố mở lại “cõi lòng thảnh thơi” thì vầng trăng sẽ soi rọi lại thôi. Ai ơi, hãy mở cửa sổ tâm hồn ra để đón lại nguồn trăng.

Lê Văn Lân

BẤT HẠNH

 
Image result for BẤT HẠNHMột chút rượu vào là con người bần thần buồn nản. Ngày nào tôi không được nói chuyện với Mỹ Hảo, con người tôi cứ lửng lơ nuối tiếc. Mỗi buổi chiều về lòng tôi như lửa đốt, nôn nóng bồn chồn. Tôi không hiểu tại sao tôi lại có cảm giác như vậy nhưng tôi cố tự chữa bằng cách tìm quên. Bờ sông mặt nước làm cho tôi quên đi cảm giác đó. Khi ánh nắng màu cam cuối ngày sắp khuất hẳn ở cuối chân trời, tôi nhìn xuống bờ sông những áng mây màu tơ lung linh đáy nước, tôi thấy hình ảnh Mỹ Hảo rất rõ ràng và nỗi nhớ nhung tràn ngập tâm hồn tôi.
Nhiều lần tôi tự hỏi mình đã thực sự yêu Mỹ Hảo? Tôi không trả lời được, tôi thương hay yêu Mỹ Hảo? Tôi say đắm hay ngây dại? Tất cả lẫn lộn vào dòng suy nghĩ. Có một điều tôi biết tôi không thể vắng Mỹ Hảo lâu ngày được. Tôi tự ví mình như anh chàng lưu linh, một ngày không có rượu.
Tôi gặp Mỹ Hảo trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Những ngày mà cả đất nước như nồi bắp rang trên lò lửa. Những đoàn người hốt hoảng đạp nhau chạy về Sài gòn. Khi con đường Long Khánh Sài gòn bị gián đoạn bởi chiến trận đang xảy ra ác liệt, mọi người đổ ùa ra bờ biển tìm đường thoát thân. Trên một chiếc thuyền nan nhỏ, tôi đã cố hết sức, kéo được Mỹ Hảo lên đang bế đứa con trên tay, lên được thuyền. Chỉ cần một tích tắc tôi đuối sức sẩy tay thì Mỹ Hảo và đứa con nhỏ đã rơi xuống biển. Những đợt sóng biển như muốn đánh vỡ tung con thuyền. Mọi người chỉ được một chỗ ngồi không nhúc nhích, người này phải ép sát vào người kia để còn chỗ tát nước. Chiếc thuyền như chiếc lá lềnh bềnh trên mặt nước. Mọi người chỉ còn đặt tất cả tin tưởng vào định mệnh. Trên thuyền, người nào cũng ướt, mặt mày xám ngắt, lạnh cóng. Một tay tôi bế bé Thảo, con của Mỹ Hảo, ôm sát vào lòng, một tay tát nước. Một số người khác rũ liệt không còn biết gì nữa. Một đêm một ngày như cả một quãng đời dài lê thê đầy trắc ẩn. Tôi đã không hiểu được do một sức mạnh nào chiếc thuyền đã đến được bến bờ Vũng Tàu.
Những ngày ở Sài gòn, Mỹ Hảo không có một ai thân thích bà con, nàng phải sống nhờ ở gia đình một người bạn gái cũ. Tôi trở lại đơn vị trung ương làm việc và hàng ngày vẫn đến thăm Mỹ Hảo.
Tôi đã đưa Mỹ Hảo qua những con đường lá me rợp bóng mát, ngồi những quán cà phê trầm ngâm và bàn những chuyện bất trắc của xã hội Sài gòn. Tình hình chính trị đang rơi vào tình trạng rối loạn, người người các nơi đổ dồn về Sài gòn và người Sài gòn lại tìm đường ra đi. Sài gòn đang trong cơn bão lốc, trong cơn sốt nghiệt ngã. Có lần vô tình nói đến quá khứ, Mỹ Hảo ôm mặt, hai hàng nước mắt tuôn trào:
– Anh nghĩ coi, em làm sao mà sống được với người Cộng Sản. Ba em đã bị chúng chặt đầu vì đã làm việc trong hội đồng làng lúc em mới lên mười tuổi. Lớn lên em làm sao quên được hình ảnh mẹ em chết ngất khi thoáng thấy đầu ba em treo lũng lẳng ở góc cây đầu làng. Em mồ côi cha từ đó, mẹ em phải bỏ làng qua một tỉnh khác để sinh sống. Nỗi cơ cực của mẹ em trong những ngày tháng sau đó ở nơi xứ lạ vẫn tần tảo nuôi em lớn khôn. Em phải đi lấy chồng sớm để có nơi nương tựa giúp đỡ mẹ em tuổi già. Một hạnh phúc an phận đơn sơ không được bao lâu, mùa hè đỏ lửa đến. Chồng em đã bị bắn chết trong cơn kinh hoàng này. Em thấy dồn dập bất hạnh đến với em, có lẽ tất cả bất hạnh đau khổ trên đời này đều dồn cho em tất cả. Những tiếng súng bên tai, từng đoàn người lần lượt bỏ chạy khi nghe nói Việt Cộng đến nơi, nổi kinh sợ đã thôi thúc em liều thân ôm con ra đi. Trong đầu óc em, em chưa nghĩ cuộc sống sẽ đến với em như thế nào nhưng em vẫn tìm cách sống để khỏi chết trong ám ảnh, để khỏi nhìn những kẻ thù đã giết hơn nữa phần cuộc đời của em. Anh là người cứu sống cuộc đời em và con em còn lại. Nếu sau này có người đàn ông nào đến với em, thương em chỉ thêm khổ mà thôi. Em không muốn anh là người đàn ông đó, anh đừng oán trách em dù em rất đau khổ nói ra điều này.
Những lời nói của Mỹ Hảo như những ngọn kim nhọn chích vào mạch máu, vào tim, vào tâm hồn tôi. Tôi thấy máu tôi đã chảy hoà với quá khứ bi thương của Mỹ Hảo, không ai hiểu được.
Cha mẹ anh chị tôi biết tôi thương yêu Mỹ Hảo đã oán trách xỉ vã tôi “một thằng con trai mới lớn lên đi yêu một người đàn bà có chồng có con”. Tôi đã không phân trần, đã không chối cãi, tôi chỉ im lặng sống cho tình cảm riêng mình. Tôi nghĩ nếu có nói ra cũng vô ích, không đánh đỗ được những tập tục suy nghĩ hẹp hòi đã có từ xưa đối với người đàn bà, đã làm khổ đau tàn tạ không biết bao nhiêu tâm hồn bất hạnh. Tình yêu không phải chỉ bị trói buộc vào chuyện vợ chồng con cái. Chắc có người sẽ bảo là tôi ngụy biện mù quáng, điều này tôi chỉ trả lời cho riêng tôi. Tôi biết tôi sống với một hạnh phúc không tính toán, sống với sự rung động thật sự của con tim. Tôi nói hết những dị nghị bao quanh. Mỹ Hảo đã tỏ ra cứng rắn, nàng nói:
-Em yêu anh, nhưng em thấy rõ thân phận của em, em không muốn làm anh khổ.
Tôi kéo Mỹ Hảo vào lòng, siết chặt bàn tay:
– Tuỳ em, tình yêu theo anh không phải là một bài toán, một cuộc đánh cờ, lý luận trong tình yêu chỉ thừa thải mà thôi.
Tôi không thể nào rời khỏi sở suốt ngày và đêm 29. Sáng ngày 30 tháng 4 tôi trở về nhà. Căn nhà khoá kín không một tiếng động bên trong. Tôi phá cửa vào nhà. Trên bàn có một miếng giấy với những dòng chữ vội vàng nguệch ngoạc:
Tâm con, Ba mẹ không có cách nào lại đón con kịp. Ba mẹ và gia đình đã được chú Tám báo gấp phải xuống tàu ngay. Con phải tìm đường đi ngay.
Ba của con”.
Tôi vò miếng giấy cho vào túi áo, lấy xe gắn máy lên ngay Mỹ Hảo.
-Hai ngày nay em trông chờ anh từng phút từng giây. Lòng em như lửa đốt, cứ chạy ra đường rồi lại chạy vào, em tính nếu lên sở kiếm anh, anh lại về nhà em rồi thì làm sao. Làm sao bây giờ hở anh. Ông Minh đã đọc lệnh đầu hàng bàn giao rồi, Việt Cộng đã vào đầy đường ghê quá!
Tôi, Mỹ Hảo và bé Thảo chạy khắp đường lối, lên Tân Sơn Nhất, xuống Bạch Đằng, cuối cùng chẳng biết con đường nào để chạy. Các đường lộ ra khỏi Sài gòn đang có giao tranh rất nguy hiểm. Cuối cùng tôi đã đưa Mỹ Hảo và bé Thảo về sống ở căn nhà ba mẹ tôi để lại. Tôi và Mỹ Hảo sống trọn vẹn những ngày đó, nhưng hạnh phúc này cũng đã bị chia xẻ bởi sự kinh hoàng. Đất nước rơi vào tay Cộng Sản. Ám ảnh xưa không thể nào không đến với Mỹ Hảo. Một tháng sau đó tôi đã phải vào trong trại tập trung “cải tạo”. Một lần nữa bất hạnh lại đến với Mỹ Hảo.
Phan Việt Thuỷ

Khỏa thân



Tôi làm người mẫu vẽ khỏa thân đã được tròn mười năm. Công việc hằng ngày của tôi là đến giảng đường, lột bỏ quần áo và ngồi bất động suốt nhiều tiếng đồng hồ cho sinh viên vẽ. Hàng trăm cặp mắt đổ dồn vào thân thể tôi, có cái nhìn bỏng rát, có cái nhìn buốt lạnh, lại có cái nhìn ơ hờ khiến tôi chỉ muốn biến mình thành tượng đá. Người ta bắt tôi tạo hình đủ mọi tư thế, đủ mọi ánh mắt buồn vui.

Người ta vẽ tôi từ ngày này sang ngày khác nhưng không một ai có thể vẽ nổi những nhịp đập của trái tim tôi nhỏ bé sau lồng ngực trần, không một mảnh vải che. Người ta cũng không thể vẽ được ánh buồn sâu thẳm của tôi đọng sâu trong khóe mắt. Đấy mới là thế giới thật của tôi. Tôi chỉ là một người mẫu khỏa thân, làm công việc đó vì tiền, tôi chẳng biết gì về nghệ thuật. Nhưng đôi khi trước con mắt giễu cợt của những người cầm cọ vẽ, tôi lại thấy thương thay cho nghệ thuật. Bởi họ chỉ tạo ra những xác, vỏ không hồn…

Résultat de recherche d'images pour

Résultat de recherche d'images pour
Ảnh nghệ thuật Dương Quốc Định (Ảnh minh họa)

Tôi vốn là một cô gái quê, học xong phổ thông do gia đình không có điều kiện để học tiếp nên tôi theo bạn xuống thành phố kiếm việc làm. Tôi từng trải qua nhiều công việc khác nhau, từ dọn bàn, bán hàng, phát hàng khuyến mại rồi vào làm công nhân trong một khu công nghiệp phía nam thành phố. Tại đó tôi quen một người con trai tên Hùng, vì thương hoàn cảnh gia đình anh mẹ góa con côi mà tôi thường qua lại thăm nom, giúp đỡ. Rồi thì yêu nhau lúc nào không biết, tôi theo về nhà anh ở như vợ chồng mà không cần có một đám cưới nào.

Tôi sinh con được một năm thì chồng bị tai nạn phải nằm bó bột ở nhà. Có con nhỏ nên tôi không thể đi làm, thu nhập của cả gia đình chủ yếu nhờ vào việc buôn bán đồng nát của mẹ chồng, nên cuộc sống càng chồng chất khó khăn. Những ngày sau đó tôi phải để con ở nhà lên thành phố đứng chen chân trong các chợ người chờ việc làm. Chính tại đây tôi đã gặp một người họa sĩ, để rồi được giới thiệu đến với nghề làm mẫu khỏa thân, sau này tôi cứ tự hỏi rằng đó chỉ đơn thuần là một cuộc gặp gỡ tình cờ hay là số phận? Bởi biết bao nhiêu buồn vui, tủi hờn, cay đắng của cuộc đời tôi cũng bắt đầu từ ngày hôm ấy…

Mỗi ngày tôi phải ngồi làm mẫu ít nhất là bốn tiếng, chưa kể vì miếng cơm manh áo mà phải chạy sô từ trường này sang trường khác. Dù đã làm nghề nhiều năm nhưng ngày nào cơ thể tôi cũng rệu rã và đau đớn vì phải ngồi lâu trong một tư thế bất động. Có những lúc tôi cảm thấy các mạch máu như đông cứng lại vào những ngày Đông rét buốt khi may mắn lắm cũng chỉ có một chiếc lò sưởi nhỏ không đủ xua đi cái lạnh thấu xương. Mười năm trong nghề là mười năm tôi biến mình thành tượng. Những bức tượng trong những tư thế khác nhau. Có thể trong con mắt của những sinh viên mỹ thuật, những người nghệ sĩ thì tôi là nguồn cảm hứng cho họ. Nhưng tôi luôn thấy mình đang chết dần chết mòn, mỗi ngày mỗi héo hắt, tàn rạc và trống rỗng.

Tôi thường trở về nhà bằng lem luốc bụi than, bằng những câu chuyện thêu dệt về nghề nghiệp. Suốt bao nhiêu năm dài chồng tôi vẫn tưởng tôi làm công nhân trong một xưởng than. Sau lần tai nạn, chồng tôi tự nhiên sinh ra đổ đốn, hay rượu chè và trở về nhà là lấy cớ đánh đập vợ con. Tôi không còn cảm nhận được tình yêu của chồng từ những cái ghì siết đầy hằn học, biến những cuộc ái ân chồng vợ thành ám ảnh. Mỗi lần bị chồng lột sạch quần áo và lao vào như một kẻ thô bạo, tôi thành ra ghê tởm và căm ghét cơ thể, da thịt của chính mình. Tôi tưởng như mình sinh ra chỉ là vật trang trí hay đồ chơi của người khác mà thôi. Ý nghĩ ấy khiến mỗi khi tôi trút bỏ quần áo ngồi khỏa thân trước mặt hàng trăm cặp mắt khác, tôi không còn thấy ngại ngùng. Nhưng mỗi khi trở về nhà, sục tay vào đống than ven đường, tôi chỉ muốn có thể bôi trát chúng lên mặt mũi và cả tim gan cho đỡ ê chề. Những cảm giác đan xen nhau, mâu thuẫn nhau khiến tôi nhiều lúc như điên loạn.
Image associée
 Résultat de recherche d'images pour
.Ảnh nghệ thuật Dương Quốc Định (Ảnh minh họa)

Tôi vẫn nhớ như in cảm giác của lần đầu tiên trút bỏ quần áo rồi bước ra trước mặt sinh viên. Cảm giác như hàng trăm con mắt đang làm tình trên cơ thể trần trụi của mình. Lúc ấy tôi chỉ biết nuốt nỗi xấu hổ và nhục nhã khi nghĩ về người chồng đau ốm và đứa con thơ.
- Oa! Đến mình là con gái còn không chịu được nữa là…
- Thật là hấp dẫn!
- Bình tĩnh đi nào! Ngày xưa lúc bằng tuổi các em, mỗi lần nhìn mẫu vẽ thầy thường phải chạy đi chỗ khác đấy.

Résultat de recherche d'images pour
Image associée
Ảnh nghệ thuật Dương Quốc Định (Ảnh minh họa)

Những tiếng cười rộ lên, tiếng đấm nhau thùm thụp, tiếng cười rúc rích. Rồi thì cũng im bặt chỉ còn lại tiếng của bút chì miệt mài trên giấy. Tiếng gió lùa vào da thịt lạnh buốt và tiếng trái tim mình rệu rã. Rất nhiều ngày tôi đến làm mẫu vẽ trong tâm trạng mệt mỏi như vậy, ngày nào cũng trôi qua trong tiếng thở dài, không có ngày nào đọng lại trong ký ức tôi. Cho đến khi tôi bắt gặp ánh mắt của một cậu sinh viên còn rất trẻ. Ánh nhìn ấy trong sáng đến mức khiến tôi tự nhiên lại thấy xấu hổ trước cậu vô cùng. Dù đã bao nhiêu năm tôi không còn cảm giác ấy nữa. Tên cậu ấy là Quang, cậu sinh viên đã từng nhiều lần ngồi lại bên tôi sau giờ vẽ mẫu. Lần đầu tiên tôi thấy có người muốn lắng nghe tôi nói và khiến tôi có thể bộc bạch được những nỗi buồn thầm kín trong lòng. Chẳng hiểu sao mỗi khi gần Quang, tôi lại thấy mình như bé nhỏ, như cần một bờ vai vững chắc, một chỗ dựa đủ bình yên. Tôi yêu Quang từ khi nào không rõ nữa. Đã có lần tôi hỏi Quang:

- Cậu nghĩ gì về những người làm mẫu vẽ như tôi?
Quang nhìn thẳng vào mắt tôi, nói một cách chân thành:
- Là cái đẹp. Là người mang lại cảm hứng sáng tạo cho nghệ thuật dĩ nhiên là rất đẹp.
- Thật vậy sao? Tôi thì lúc nào cũng nghĩ mình là thứ chẳng ra gì. Mà đúng là chẳng ra gì cả. Ngay cả lòng yêu nghề tôi cũng không có. Hình như tôi chỉ mang lại sự giả dối đến những sinh viên như cậu. Tôi thật sự chẳng hiểu gì về hai từ “nghệ thuật”.
- Điều đó thì có sao đâu. Chị chỉ cần biết rằng nghệ thuật luôn bắt nguồn từ cái đẹp. Mà chị thì rất đẹp. Vậy là đủ rồi.

Résultat de recherche d'images pour

Résultat de recherche d'images pour

Ảnh nghệ thuật Dương Quốc Định (Ảnh minh họa)

Từ khi yêu Quang, tôi bắt đầu thấy mọi thứ nhẹ nhàng hơn, thấy yêu nghề của mình bởi có ít nhất một người không nhìn cơ thể khỏa thân của tôi bằng ánh nhìn phàm tục. Tôi yêu luôn cả những bức vẽ của Quang, thấy chúng trở nên đẹp đến thánh thiện. Gương mặt ấy, ánh mắt ấy, nụ cười ấy thực sự đã gieo vào tâm hồn tôi những nốt nhạc tươi vui của cuộc sống. Tôi nhớ những hôm bị chồng đánh cho bầm dập, tôi phải xin nghỉ ở nhà cho vết thâm tím trên cơ thể mờ đi mới dám đến làm mẫu. Nhưng vết bầm tím trên má phải là vẫn còn, các sinh viên khác không ai để ý thấy, hoặc có thấy thì họ cũng chẳng mấy bận tâm. Vì yêu cầu bài vẽ hôm đó, tôi ngồi nghiêng chỉ để lộ một nửa khuôn mặt, bên phía má bị bầm tím được che khuất. Chỉ duy có Quang là cả buổi cứ nhìn bên má phải của tôi với vẻ xót xa. Quang bảo:
- Để người khác làm mình đau là có lỗi với bản thân đấy, chị ạ.

Tôi cười bảo:
- Tôi quen rồi. Cậu lo lắng cho tôi sao?
- Chính vì cái ý nghĩ cam chịu ấy mà người khác mới luôn chà đạp lên mình đấy. Lần sau thì đừng để như thế nữa nhé!

Hết buổi, Quang dúi vào tay tôi tuýp thuốc Hirudoid và dặn tôi nhớ bôi đều. Đấy cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Quang. Bởi sau vài ngày không thấy Quang đến giảng đường thì nghe tin cậu đã bị bắt khi cùng một nhóm bạn đi cướp tiệm vàng. Không ai là không bàng hoàng trước tin đó, riêng tôi còn thấy trống rỗng và hoang mang đến lạ. Có rất nhiều câu chuyện thêu dệt xung quanh sự việc của Quang. Người bảo Quang vì bạn mà dại dột, có người lại bảo do bị rủ rê nên sinh tật xấu. Tôi bỏ qua tất cả những phán xét đó bởi trong mắt tôi Quang lúc nào cũng thánh thiện. Ngay cả khi sự thánh thiện ấy đã dính vào tội lỗi thì cũng không có nghĩa rằng tôi không có quyền giữ lại những điều tốt đẹp nhất làm kỷ niệm.

Nhiều năm sau đó tôi vẫn tiếp tục đến giảng đường làm mẫu vẽ dù đã kiếm được việc làm thêm trong quán phở nhỏ, nơi trước kia Quang từng dẫn tôi đến giới thiệu. Tôi sợ nếu không đến phòng vẽ thì những kỷ niệm về Quang sẽ mau chóng nhạt phai theo thời gian và những nỗi lo cơm áo. Tôi cứ chờ đợi trong hy vọng rằng một ngày nào đó Quang sẽ trở về, lại làm vui đời tôi bằng ánh mắt vô cùng thánh thiện. Tôi bỗng nhớ những ngày tôi ngồi khóc sau giờ làm mẫu, Quang trèo lên cây ngọc lan trong góc sân trường hái cho tôi từng vốc hoa nhỏ trắng dỗ dành. Nhớ cả những ngày Đông, Quang mang thêm cho tôi một chiếc lò sưởi bằng than cho đỡ phần giá lạnh. Quang làm tất cả những điều đó bằng sự vô tư, trong sáng của một đứa em thương chị. Chưa bao giờ Quang nhìn tôi như một người làm mẫu tầm thường.

Image associée
Ảnh nghệ thuật Dương Quốc Định (Ảnh minh họa)
Tôi còn làm mẫu vẽ ở trường Mỹ thuật một thời gian rất dài. Cho đến một hôm tôi bất chợt nghe thấy các sinh viên nói với nhau:

- Nhìn mãi chị người mẫu này chẳng còn thấy có cảm hứng gì hết cả. Ước gì có người mẫu mới nhỉ?

Tự nhiên tôi thấy mình không còn đẹp nữa, không còn sự tự tin mà Quang đã trao cho tôi bằng sự thánh thiện của mình. Tôi đã bỏ nghề từ hôm ấy.


VŨ THỊ HUYỀN TRANG 

 http://nhinrabonphuong.blogspot.co.uk/2017/05/khoa-than-vu-thi-huyen-trang.html

Bài Xem Nhiều