We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 22 June 2017

“Uống nước chữa bệnh” kiểu Nhật Bản!



Tại đất nước mặt trời mọc, người ta đã sử dụng phương pháp đơn giản này trong một thời gian dài để chữa trị các loại bệnh khác nhau, từ đau đầu cho đến ung thư.
Một bí mật từ lâu đã được biết đến rằng uống nước ngay sau khi bạn thức dậy, trước khi ăn bất cứ thứ gì, là một cách tốt để làm sạch các hệ thống cơ quan trong cơ thể. Một trong những kết quả quan trọng nhất của quá trình điều trị này là làm sạch ruột, giúp hấp thu tốt hơn các chất dinh dưỡng từ thực phẩm. Khi có sản xuất các tế bào máu mới, nó có tác dụng to lớn trong phục hồi cơ thể và bạn thậm chí có thể được chữa khỏi các bệnh hiện có.
Trị liệu bằng nước theo phương pháp của người Nhật Bản
Từ xa xưa, người Nhật sử dụng nước như một phương pháp tự nhiên để điều trị và làm giảm bệnh tiểu đường, bệnh viêm dạ dày, đau đầu, hen suyễn, viêm phế quản, viêm khớp, bệnh động kinh, bệnh tim, bệnh lao, thận và nước tiểu, bệnh tiêu chảy, nôn mửa, táo bón, trĩ, mắt, tai mũi họng, các vấn đề với tử cung, ung thư và rối loạn kinh nguyệt.
Uống nước được là có thể làm giảm và chữa nhiều bệnh từ đau đầu đến ung thư ( Ảnh: bethsmithnutrition.com)
Uống nước được là có thể làm giảm và chữa nhiều bệnh từ đau đầu đến ung thư 

Để thực hiện phương pháp này, nên bắt đầu với uống nước như sau:
  • Trước khi đánh răng, uống 640 ml (4 ly 160 ml) nước. Tốt nhất là nước không chứa flor.
  • Đánh răng, súc miệng nhưng không ăn hoặc uống bất cứ thứ gì trong 45 phút sau đó.
  • Ăn sáng như bình thường
  • Sau khi ăn sáng, không ăn bất cứ thứ gì trong 2 giờ.
Người ta cho rằng, nên uống nước hơi ấm thì tốt hơn, không nên uống nước lạnh hay kể cả nước ở nhiệt độ phòng. Giống như tại Viễn Đông, người ta thường không uống nước lạnh kèm các bữa ăn, thay vào đó, họ uống trà ấm.
Thường xuyên uống nước khi đói
Danh sách dưới đây cho biết số ngày điều trị để chữa / kiểm soát / giảm các bệnh chính:
Cao huyết áp: 30 ngày
Bệnh tiểu đường: 30 ngày
Viêm dạ dày: 10 ngày
Táo bón: 10 ngày
Bệnh lao: 90 ngày
Ung thư: 180 ngày
Những người bị viêm khớp nên uống nước 3 ngày trong tuần đầu tiên, và từ tuần thứ 2 thì uống hàng ngày.
Ngoài ra, những ai không thể uống luôn được 4 cốc/ ngày thì có thể bắt đầu uống ít hơn và dần tăng lên đến 4 cốc.
Liệu pháp điều trị bằng nước của Nhật không có tác dụng phụ, góp phần tăng cường sức khỏe và tình trạng chung của cơ thể khi bạn coi đó như một thói quen hàng ngày. Phương pháp này được thúc đẩy bởi Hội Y tế Nhật Bản và nhiều người đã chấp nhận nó mặc dù chưa tìm thấy bằng chứng khoa học về hiệu quả của liệu pháp này. Thực tế người Nhật nổi tiếng am hiểu trong dưỡng sinh, Nhật Bản có tỷ lệ người sống đến cả trăm tuổi cao nhất của trên thế giới… do vậy ‘liệu pháp nước’ ắt phải có những nguyên do tốt lành.

----
 

Tỏi và công dụng

 

Image result for TỏiTỏi là loài thực vật thuộc họ hành tỏi, tên khoa học là Allium Sativum Liliaceae.
Tỏi được trồng đầu tiên ở Trung Ðông từ khoảng vài ngàn năm trước. Hiện nay tỏi đứng hàng thứ 14 về sản lượng trong các loại rau trồng. Trung Hoa, Nam Hàn, Ấn Ðộ, Hoa Kỳ là các quốc gia sản xuất tỏi nhiều nhất. Ða số tỏi ở Hoa Kỳ được trồng ở tiểu bang California.
Các bà nội trợ dùng tỏi từ nhiều ngàn năm nay để làm gia vị nấu nướng.
Tỏi cũng đã được dùng làm thuốc trị bệnh trong nền y học cổ truyền tại nhiều quốc gia, nhưng chỉ mấy chục năm gần đây, công dụng trị liệu này mới được khoa học nghiên cứu, áp dụng.
Hóa chất trong tỏi
Năm 1951, hai nhà hóa học Thụy Sĩ là Arthur Stoll và Ewald Seebeck đã tìm ra hóa chất chính của tỏi là chất Alliin và men Allinase. Hai chất này được giữ riêng rẽ, không tiếp xúc với nhau trong tế bào tỏi.
Bình thường, tỏi không có mùi, nhưng khi tỏi được cắt nhỏ, thì men Allinase sẽ tác dụng vào Alliin, tạo ra hóa chất Allicin với hương vị đặc biệt hăng cay và làm chảy nước mắt. Khi nấu chín hay chế biến (ngâm giấm chẳng hạn) thì Alliin mất bớt đi.
Vì mùi vị đặc biệt đó mà người Âu Châu âu yếm gọi tỏi là “Nụ Hồng Hôi” và một bác sĩ ở bệnh viện M.D. Anderson, Houston, Texas, cho biết thêm rằng tỏi càng hôi càng tốt.
Allicin là một hóa chất bay hơi, rất mau tan, dễ dàng biến đổi thành các chất thuộc nhóm sulfide (hợp chất có sulfur) trong tinh dầu tỏi. Sự sulfur hóa của Allicin xảy ra nhanh hơn sau khi tỏi được đập nát và nấu chín.
Các chất Sulfide trong tỏi có dạng giống như dầu và là thành phần công dụng chính của tỏi mà ta có thể mua được dưới dạng viên tỏi con nhộng. Alliin là yếu tố chính làm cho tỏi có công dụng như như một loại thuốc kháng sinh. Vì thế tinh dầu tỏi giảm mạnh khả năng kháng sinh do phần lớn Allicin đã biến đổi thành các chất sulfide.
Nước chiếm tỉ lệ 65% trong tỏi.

Tỏi cũng có nhiều chất đạm amino acids, quan trọng nhất là cystine và methionine. Ngoài ra còn có tinh bột, một ít chất béo, các sinh tố A, B, C và E, các chất khoáng như calci, magane, nhôm, đặc biệt là các chất chống oxy hóa selenium và germanium
Các dạng tỏi
-Tỏi sống: Khi ăn sống, tỏi có mùi vị hôi cay rất mạnh do chất Allicin gây ra. Như đã trình bày, ở trạng thái tự nhiên thì Allicin chưa có mặt. Chỉ khi tỏi được cắt nhỏ, cắn hay đập nát thì nó mới được tạo thành do men Allinase tác dụng với Allinin. Vì thế tỏi tươi bày bán không có mùi.
Ăn tỏi tươi cũng tốt như khi nấu chín, nhưng vị tỏi tươi quá cay có thể gây khó chịu cho cả miệng lẫn dạ dày. Vì thế nên ăn kèm với các loại rau. Hoặc cũng có thể thêm tỏi sống vào trứng, súp, rau xà lách… cho dễ ăn.
Cũng có người cắt tỏi thành từng miếng nhỏ nhét vào quả nho rồi nhai nuốt trôi đi, hoặc pha lẫn tỏi đập nhỏ trong sữa, mật ong rồi uống hoặc uống nước tỏi với nước trái cây.
Kinh nghiệm dân gian thường ăn cháo trắng thật nóng với tỏi tươi để giải cảm.
-Tỏi đặc chế: Ở phương Tây, trong các tiệm thuốc hay quày thực phẩm thường thấy bày bán đủ loại sản phẩm tỏi đặc chế như viên tỏi, nước chắt tỏi, bột tỏi, dầu tỏi, tỏi có mùi, tỏi không mùi… Các sản phẩm tỏi này đặc biệt rất phổ biến ở Ðức, Nhật, Anh…
Giới chức y tế ở Ðức và Nhật chính thức công nhận sản phẩm tỏi trị được bệnh tim mạch. Bên Anh thì có tới 10% dân chúng dùng sản phẩm tỏi. Mức tiêu thụ tỏi ở Hoa Kỳ lên đến $100 triệu mỗi năm.
-Tinh dầu tỏi: Tinh dầu tỏi thường được trình bày dưới dạng viên con nhộng, vỏ bọc là một chất gelatin. Dầu tỏi chứa đủ tất cả các hóa chất sulfides. Một phần củ tỏi nặng 2 g cho khoảng 2 mg tinh dầu.
Dầu tỏi được chế biến ở bên Ðức từ năm 1920 và hiện nay rất thông dụng ở Hoa Kỳ.
Uống viên nhộng chứa tinh dầu tỏi không thấy mùi hôi ở miệng, nhưng hơi thở vẫn nặng mùi khi dầu được tiêu hóa trong bao tử.
Dầu có mọi công hiệu của tỏi ngoại trừ khả năng kháng sinh thì ít hơn.
-Tỏi bột: Tỏi được sấy khô, tán thành bột rồi bán dưới dạng viên, được bọc kín nên không thoát ra mùi hôi.
Cách thức sấy tỏi để làm thức ăn và dược phẩm khác nhau: Khi dùng làm thức ăn, tỏi được sấy lâu hơn, ở nhiệt độ cao hơn khi làm thuốc, do đó còn lại rất ít Allicin và dầu tỏi.
-Tỏi không mùi: Tỏi này được người Nhật chế biến đầu tiên.
Tỏi được thái nhỏ, ngâm trong rượu vài tháng rồi tinh lọc lấy dịch chiết để làm thuốc viên.
Thuốc không mùi vì một số thành phần hóa chất mất đi trong khi chế biến. Tuy nhiên tỏi này vẫn giữ nguyên một số công dụng trị liệu, đặc biệt là ngăn ngừa ung thư.
Những điều cần lưu ý
1-Bình thường, tỏi rất an toàn khi tiêu thụ, ngoại trừ khi có dị ứng với tỏi.
Tỏi chỉ gây ngộ độc khi ăn nhiều, như hai ba trăm nhánh một lúc, đôi khi tỏi có thể gây phản ứng ngứa trên da, khó chịu trong bao tử.
2-Ðiểm đặc biệt là tỏi làm chậm sự đông máu nên khi uống thuốc cầm máu hoặc trước khi giải phẫu, không nên ăn nhiều tỏi quá.
3-Có đến hàng trăm loại tỏi khác nhau nhưng chỉ có 17 loại chính. Tỏi thường được trồng vào mùa Thu, và sẵn sàng gặt hái vào Tháng Năm tới cuối Tháng Sáu năm sau.
4-Tỏi có vị cay khác nhau, từ rất hăng cay tới vừa phải. Khi tỏi mới thu hoạch về thì vị còn nhẹ, vị tăng lần khi được tồn trữ rồi tới khi nẩy mầm thì mùi vị giảm.
5-Khi tỏi được nấu chín thì chỉ có Allicin với đặc tính kháng sinh bị mất đi, nhưng các đặc tính khác được giữ nguyên vì các hợp chất nhóm sulfur không thay đổi. Chính các hợp chất này mang lại các công dụng của tỏi.
6-Tỏi càng có mùi hôi càng có công hiệu mạnh. Thông thường ta ăn được nhiều tỏi nấu chín hơn là ăn tỏi sống.
7-Muốn sấy khô tỏi thì cắt tỏi thành từng miếng mỏng, đặt trên miếng vải thưa rồi phơi nắng hay sấy trong bếp lò ở nhiệt độ thấp.
8-Tỏi có thể để dành được khoảng sáu tháng. Nên cất giữ trong túi giấy để tránh ánh sáng, để nơi nhiệt độ vừa phải và thoáng khí.
Không nên cất giữ tỏi trong tủ lạnh, tránh tỏi hư vì độ ẩm, hoặc để trong túi nylon kín hơi.
9-Bóc tỏi đôi khi rất mất công. Muốn dễ dàng, ngâm tỏi trong nước lạnh hoặc nước sôi ít phút rồi bóc, vì nước sôi làm lỏng vỏ tỏi.
10-Khi mua, nên lựa tỏi cứng chắc, bụ bẫm, vỏ khô, sạch và không rách.
11-Sau đây là vài mẹo vặt để làm hết mùi tỏi trong miệng:
-Súc miệng với nước trái chanh hòa trong nước lạnh.
-Nhai vỏ cam hay vỏ chanh.
-Nhai hạt thì là hay hạt hồi (anise), hoặc vỏ quế, hột cà phê rang.
-Ăn một quả táo tươi.
l2-Khi làm tỏi, rửa tay ngay bằng nước lạnh để làm mất mùi hôi.
Muốn làm hết mùi hôi trong chai lọ đựng tỏi thì rửa sạch rồi nhét một tờ báo vào chai, đậy nút, vài ngày sau mùi tỏi hết.


Nặng lòng chữ hiếu!

Nặng lòng chữ hiếu Cha ơi! Làm sao trả nổi cuộc đời của con’

Tình yêu mà cha dành cho chúng con thật thầm lặng. Còn đối với mẹ, lại là tấm chân tình sâu đậm, giống như rượu để càng lâu lại càng nồng nàn, càng thơm…
Từ xưa tới nay, những từ “trầm mặc, ít nói, hướng nội” thường được dùng để nói về cha. Mãi cho tới hai năm trước, khi mẹ tôi “bất cẩn” lên nhầm chuyến xe “tai biến” tại New York, thì tôi mới dần dần phát hiện ra rằng, hóa ra… cha cũng thật dịu dàng. Sự mềm mại đó thể hiện ra từ trong sinh hoạt thường ngày, âm thầm tích trữ thành dòng sông, lặng lẽ chảy mãi không dừng, tưới mát tâm hồn tôi.
Trong thị trấn nhỏ của chúng tôi, những đứa trẻ đều lớn lên, chắp cánh bay cao bay xa. Những người đến tuổi lập gia đình thì lập gia đình, những ai muốn phát triển sự nghiệp thì cũng tới nơi đất khách quê người làm ăn.
Vậy nên trong căn nhà trống trải chỉ còn lại hai bóng già nương tựa vào nhau. Thi thoảng cuối tuần hoặc vào ngày nghỉ con cái mới quây quần đông đủ. Buổi hàn huyên vui vẻ sớm kết thúc, con cháu lại rời đi như cơn lốc, thoáng chốc không gian lại trở nên yên ắng. Có lẽ đây là bức tranh tả thực khá chuẩn xác về hình ảnh gia đình hiện đại ngày nay.
Ai cũng muốn bay thật cao, thật xa, cho tới khi nhận ra trở về bên cha mẹ lại là điều khó khăn nhất.
Từ ngày mẹ tôi bị tai biến, mặc dù sức khỏe chuyển biến tốt, nhưng cánh tay phải của mẹ vẫn chưa hoàn toàn bình phục. Cánh tay trở nên yếu ớt không còn mấy sức lực, 5 ngón tay thi thoảng tê bì và co cụm lại. Mẹ muốn chụm tay lại hay giơ tay ra hoặc cúi trước ngả sau cũng không còn dễ dàng, linh hoạt như xưa.
Dẫu cho 7 người con chúng tôi đã nói cạn lời với cha mẹ già, ngỏ ý muốn mời người giúp việc lo toan việc lớn việc nhỏ trong nhà, để cha mẹ được an nhàn lúc tuổi xế chiều nhưng đều không thuyết phục được cha mẹ. Cha mẹ xưa nay vốn tính cách không hợp nhau nhưng về việc thuê người làm lại cùng một suy nghĩ.
Điều này cũng thật lạ, cha mẹ đều xuất thân vất vả, giờ lại được người khác cung kính hầu hạ, phải chăng thấy ngượng ngùng hay không thoải mái vì trong nhà có thêm người lạ? Dù sao thì cũng không thể thuyết phục được cha mẹ, chúng tôi chỉ biết thương lượng sắp xếp thời gian cùng về thăm nhà, thu dọn, quét tước, làm những việc vặt trong nhà.
Vậy là tự nhiên gánh nặng dọn dẹp và mọi thứ trong nhà cha lại đổ dồn lên vai cha. Từ việc quét tước nhà cửa cho tới việc lau cửa sổ, giặt giũ quần áo, dọn dẹp vệ sinh, cơm nước, tắm giặt, khâu vá…. thậm chí ngay cả việc chà rửa hàm răng giả cho mẹ, đều do một tay cha làm. Cha cũng không nói một lời nào, ông chỉ âm thầm chu toàn mọi việc. Những việc làm tưởng chừng nhỏ bé ấy lại trở nên vĩ đại trong lòng tôi.
Cha âm thầm lặng lẽ chu toàn tất cả, chăm lo cho mẹ và gánh vác mọi việc trong gia đình. 
Tôi ôm giữ chúng trong lòng với một nỗi xúc động nghẹn ngào thầm lặng, cố kìm nén con sóng lớn đang ầm ầm vang dội: Đây chẳng phải là những việc trong phận sự của con cái hay sao? Không thể hàng ngày phụng dưỡng hiếu kính bên cha mẹ, tôi thấy thật xấu hổ và ăn năn.
Cha vốn là người đôn hậu, lạc quan. Dẫu là chuyện to tày trời lọt vào mắt ông, thì ông vẫn điềm nhiên đối diện với nó, sau đó cha mới tìm cách giải quyết. Dẫu gặp phải chuyện oan ức hoặc khiến lòng người oán hận, cha cũng không mảy may thể hiện điều gì trên khuôn mặt hay phản ứng lại, cha vẫn trầm tĩnh, quật cường và kiên định. Sự nhẫn nhịn này thường khiến tôi xúc động.
Tính tôi bộp chộp, hay nóng giận, động một chút là tôi có thể nổi đình nổi đám lên. Khi sốt ruột hay công việc thất bại tôi hay phiền muộn, rồi thành ra bực dọc. Còn cha tôi xưa nay lại không hề nổi giận trách mắng ai, ông lại càng không cằn nhằn, khó chịu với mọi người xung quanh. Ông vẫn luôn im lặng không nói, chỉ chuyên tâm cố gắng thu xếp mọi việc thật êm đẹp.
Sự ảnh hưởng thầm lặng này ngấm dần vào trong cõi lòng tôi, xuyên suốt dòng chảy trong sinh mệnh của tôi, và dạy cho tôi những nội hàm tinh thần sâu sắc. Việc giáo dục vô hình nhưng lại rất cảm động của cha là tài sản lớn nhất trong cuộc đời này của chúng tôi.
Cha còn có khả năng âm nhạc thiên bẩm như ông nội. Nghe mẹ kể rằng trước kia ông nội kéo đàn nhị rất hay, ông tự học mà thành tài. Còn cha lại rất nhạy cảm với tiết tấu của âm nhạc. Ông thích nghe nhạc, thích hát, mỗi lần ông thổi sáo lại càng giống ông nội, tự học mà thành tài. Có lẽ vì vậy mà trong dòng máu của tôi cũng tự nhiên có niềm đam mê nhiệt thành với âm nhạc. Những khi cao hứng, cha lại dùng ngón trỏ ấn trên phím đàn, nốt được nốt không, tạo thành những “đơn khúc sáng tạo”, mang lại niềm vui cho mọi người.

Tình cảm cha dành cho mẹ là tình sâu nghĩa nặng, giống như rượu để lâu, càng ngày càng thơm, càng ngày càng nồng nàn hơn.

Thi thoảng về nhà tôi lại nhìn thấy dáng cha nằm thư thái trên chiếc ghế gập. Đôi khi ông lẩm nhẩm bài hát của những ca sĩ vang bóng một thời, hay thổi bài tiêu “Một nhành mai” mà ông ưa thích nhất. Dù là tiếng sáo hay tiếng hát của cha cũng đều thấm đẫm thi vị thâm trầm của tuổi tác. Phong vị ấy tưới tắn, thấm nhuần từng chút một vào trong tâm hồn thơ bé của tôi, thì thầm bên tai tôi, đong đầy trong tim tôi và vang vọng mãi trong tâm hồn tôi.
Tính cách lạc quan, yêu đời của ông thường dễ dàng mang đến niềm vui cho mọi người, bởi lẽ ông biết lấy đủ làm vui. Cha hiểu sâu sắc đạo hạnh phúc của đời người, cha thường nói tâm không tạp niệm, thân ắt nhẹ nhàng.
Sự rộng lượng và lương thiện trong cách đối nhân xử thế của cha, chính là nguồn sức mạnh thuần phách nhất giúp ông đối diện với cuộc sống. Ông tỉ mỉ kết nối nguồn cội của sinh mệnh và tình yêu, chân thành mà khẩn thiết. Ông chăm chỉ, thành thực và toát ra vẻ an nhiên tự tại.
Người đàn ông từng đầu đội trời kiên nghị không thể khuất phục này hóa ra lại ôm giữ tình cảm mềm yếu trong đáy lòng mình. Bánh xe thời gian đang liên tục xoay vần như tia chớp, cha tôi cũng dần tới tuổi xế chiều. Sự cường tráng và mạnh mẽ ngày xưa của ông cũng dần xuống dốc.
Mỗi lần nhìn thấy bóng dáng cha, tự nhiên sống mũi tôi lại cay cay, thấy trong lòng mình sao mà cô đơn, trống vắng. Dẫu thế nào thì cha vẫn là số 1, là người khổng lồ cường tráng đầu đội trời chân đạp đất trong thế giới của tôi.
Cha tôi không giỏi ăn nói, nhưng trong ánh mắt ông thi thoảng lại gợn lên những tia ấm áp, thường khiến hơi ấm trào dâng trong lòng tôi. Tình yêu mà cha dành cho chúng tôi rất thầm lặng, nhưng đối với mẹ lại là tình sâu nghĩa nặng, giống như rượu để lâu, càng ngày càng thơm, càng ngày càng nồng nàn hơn. Có lẽ cha đã nhìn thấu tuổi tác và mọi thứ trên đời. Nhưng để có được một cái tâm thuần tịnh thì đâu có dễ?
Bóng dáng cha và mẹ cùng thơ thẩn dạo bước bên nau, đổ dài trên con đường làng dưới ánh tà dương khiến tim tôi quặt thắt. Tình thâm thực sự hóa ra lại không cần những lời bóng bẩy chót lưỡi đầu môi, lại càng không cần những bông hồng thơm lãng mạn. Tấm chân tình khiến con người mãi đi tìm ấy lại toát ra trong những cử chỉ của cha, bình dị và ấm áp vô ngần.
Nhưng rồi đến lúc cha sẽ rời khỏi thế gian, tôi biết tìm ai thay thế cha để làm chỗ dựa tinh thần vững vàng như núi và rộng rãi như trời, bao dung ấm nồng như đất. Phật gia giảng, cha mẹ và con cái cũng là mối nhân duyên trong dòng chảy sinh mệnh đời người. Biết ở kiếp nào, tôi mới trả hết chứ Hiếu cho những hi sinh thầm lặng và vĩ đại mà cha đã dành cả cuộc đời cho chúng tôi…?

Nhìn tướng biết tâm, nhìn tâm biết mệnh


Nhân tướng học được thực hành ở phương Đông từ rất xa xưa vào thời cổ đại. Dựa vào quan sát diện mạo của một người mà đoán định tương lai, còn có thể tiết lộ nhiều điều về tính cách của người đó.
Xem tướng được dùng như một nghệ thuật lẫn khoa học trong khám phá sinh mệnh. Người xưa sử dụng thuật xem tướng từ việc chọn vợ gả chồng đến tìm người cho các chức vụ trong triều đình. Xem tướng trở thành một phần của xã hội cổ đại phương Đông, được ghi chép trong các thư tịch cổ như “Trúc thư kỷ niên” và ngày càng phổ biến hơn ở phương Tây.
Có nhiều cách tiếp cận để phân chia và luận giải khuôn mặt: Khái quát đến từng nét; hoặc dùng lý âm dương ngũ hành… Thường khuôn mặt được chia làm ba phần (gọi là tam đình).

Tam Đình
Thượng đình: (Trán) từ sát mép của chân tóc đến chỗ tiếp giáp Ấn đường(khoảng giữa hai lông mày), còn gọi là Thiên, phản ánh tuổi thơ, thiếu thời, những yếu tố thiên bẩm của đối tượng. Đắc cách là cao rộng sáng sủa, thì não bộ phát triển đầy đủ, biểu hiện sự thông minh sáng suốt mà trí tuệ là tiền đề của sự thành công. Biểu hiện sơ vận của con người, từ 1-25 tuổi, nếu cao rộng: được nuôi nấng trong một gia đình đầy đủ sung sướng.
Nếu Thượng đình ngắn thì là con người có đầu óc thực tế, nếu Thượng đình tốt mà Hạ đình khuyết hãm cũng là bất đắc chí.
Trung đình: Khoảng từ lông mày xuống tới huyệt Nhân trung (giữa môi trên và mũi), còn gọi là Nhân. Trung đình quan trọng nhất là cái mũi (tốt là mũi dài, rộng, tròn, khoan hòa). Đắc cách là mũi cao và hai lưỡng quyền (gò má) rộng, mũi phải dài thì mới cân xứng. Mũi dài chủ thọ. Biểu hiện sức khỏe, khí lực. Nếu Thượng đình phát triển đầy đủ mà Trung đình khuyết hãm thì chẳng làm nên gì, trí tuệ chỉ dừng ở chỗ lý thuyết, làm việc gì cũng nản, rất khó thành công lớn.
Hạ đình: Từ Nhân trung đến địa các (cằm), còn gọi là Địa. Cần phải phong mãn, nảy nở, đầy đặn, rộng. Người cằm đầy (địa các nảy nở sáng sủa, không có vết ám hãm (vết đen, nốt ruồi) là đắc cách. Cằm phải phù hợp với mặt (nếu mặt to nhưng cằm nhỏ hoặc thót thì cũng không tốt). Nguyên tắc của tướng số là tương xứng, cân đối. Là lộc, là hoạt lực (tất cả những khí chất của cuộc sống, kinh nghiệm đường đời, sự va chạm, bươn chải trong cuộc sống, mọi hoạt động dành cho sự mưu sinh và tồn tại cuộc sống). Địa các (cằm) nảy nở sáng sủa là vãn niên (về già) sung sướng. Địa các khuyết hãm: Vãn niên vất vả. Địa các mỏng (cằm sắc lẹm): Là người bảo thủ, cực đoan.
Dùng thyết tam tài (Thiên-Địa-Nhân) mà quan sát tam đình có thế có được cái nhìn khái quát về đường đời của đối tượng: Tam đình bình ổn, phú quí vinh hiển Tam đình bất ổn, thế cô bần tiện.
Lại có thể xem từng bộ phận
Ví dụ như khoảng cách trung bình giữa hai mắt là bằng độ dài của một con mắt. Diện tướng gợi ý rằng khoảng cách giữa hai mắt có thể nói lên cái chí của một người. Người mà khoảng cách này rộng thì thường là dễ dãi, vui đâu chầu đấy, còn những người mà khoảng cách này hẹp thì thường là kẻ có chí. Ví dụ khác là môi miệng. Diện tướng gợi ý độ dầy mỏng của môi nói lên cái tính của người. Người môi mỏng thường đa ngôn, lắm lời. Môi dầy thường có tài ăn nói.
Hai môi cân xứng, lăng giác (là đường nét môi) rõ ràng, hình dáng thanh nhã, môi hồng, khóe miệng hướng lên, răng đều và trắng (răng là hình của miệng). Lời nói là thần của miệng, miệng đẹp nhưng hay nói xàm bậy là bị phá (vì tâm không tĩnh, không thể đạt tới cao sang). Nếu miệng môi đắc cách hậu vận sung sướng, con cái thành đạt, bạn bè tốt.
Nhìn tướng mạo biết được vận mệnh
Câu chuyên Bùi Độ và Bùi Chương
Bấy giờ là thời triều đại nhà Đường, Bùi Độ thuở nhỏ sống cảnh nghèo khổ cơ cực. Một hôm, trên đường gặp một vị tướng số. Vị này nhìn tướng mạo Bùi Độ, thấy ánh mắt láo liên, đường gân chạy vào chỗ miệng; ấy là tướng ăn xin đầu phố, đói khổ mà chết; bèn khuyên Bùi Độ nên nỗ lực tu dưỡng, hành thiện tích đức .
Mấy ngày sau, Bùi Độ nhặt được trên núi Hương Sơn một chiếc đai ngọc của nữ nhân và tìm trả cho người ta, nhờ thế mà cứu được tính mệnh cha mẹ cô gái ấy. Hôm sau ông gặp lại vị tướng số hôm nọ.
Vị này trông thấy Bùi Độ có ánh mắt trong sáng, thần thái đã khác hẳn, liền nói sau này Bùi Độ sẽ làm quan đại thần trong triều. Vị tướng số bèn khuyến khích Bùi Độ hành Thiện: “Tấm thân bảy thước chẳng bằng khuôn mặt bảy tấc; khuôn mặt bảy tấc chẳng bằng cái mũi ba tấc; cái mũi ba tấc chẳng bằng một khối tâm”.
Quả nhiên Bùi Độ sau làm trọng thần của bốn đời vua Đường Hiến Tông, Đường Mục Tông, Đường Kính Tông, và Đường Văn Tông, là danh tướng toàn tài, đương thời đã thành danh “huân cao trung nguyên, vang danh biên ngoại”. Trong sử sách nhìn nhận ông là “đức độ thuỷ chung suốt bốn đời vua”, uy danh đức độ của ông sánh với Quách Phần Dương. Bùi Độ có năm người con, đều có danh tiếng rạng rỡ, bản lĩnh hơn người.
Chuyện Bùi Chương
Bùi Chương là người Giang Đông tỉnh Sơn Tây. Cha mẹ của Bùi Chương có quan hệ rất thân với thần tăng Đàm Chiếu Pháp Sư. Pháp Sư giỏi về thuật tướng số, ông coi tướng Bùi Chương, thấy thiên đình bạo mãn, địa các phương viên (đỉnh trán và cằm đầy đặn phúc hậu), là tướng tương lai làm nên sự nghiệp danh giá, nhất định thành tựu.
Khi hai mươi tuổi, Bùi Chương cưới Lý Thị làm vợ. Một năm sau đó anh đến Thái Nguyên làm quan, vợ con phải để lại ở nhà. Mấy năm sau Bùi Chương trở về gặp Đàm Chiếu Pháp Sư, thì Pháp Sư rất ngạc nhiên thấy tướng mạo của anh đổi khác hẳn: Thiên đình lép kẹp, cằm nhọn, lòng bàn tay có hắc khí xoay chuyển.
Pháp Sư bèn bảo rằng anh ta e rằng sẽ gặp hoạ, phải cẩn thận; rồi gạn hỏi xem anh có làm gì thất đức không. Bùi Chương suy xét rồi kể rằng mấy năm ở Thái Nguyên chỉ phạm mỗi việc thông dâm với dân nữ là trái với luân lý mà thôi, chứ không làm gì bất lương cả.
Đàm Chiếu Pháp Sư thở dài thườn thượt nói: “Vốn dĩ cậu có tương lai tốt đẹp, sao chẳng biết trân quý? Tư thông với vợ người ta, cậu đã huỷ hết phúc đức của mình rồi. Thật quá là đáng tiếc!”
Dần dần về sau Bùi Chương thật sự gặp đại hoạ. Một lần, khi đang tắm thì bị hành thích, một đao trúng bụng, gan ruột phòi ra bỏ mạng.
Tướng mạo của một người sẽ thay đổi theo tâm niệm thiện ác của người đó
“Tướng do tâm sinh” là quan niệm trong văn hóa Thần truyền, cả trong Phật giáo lẫn Đạo giáo. “Tướng” là bề mặt, là biểu hiện bên ngoài; “tâm” là hoạt động bên trong; “tướng” là hư cấu bất thực, ở trạng thái bị động, là phản ánh ra ngoài của “tâm”; “tâm” thế nào thì “tướng” thế nấy; “tướng” là tuỳ theo “tâm” biến hoá mà biến hoá theo, cũng gọi là “cảnh tuỳ tâm chuyển”, “tướng tuỳ tâm sinh”. Cũng có thể coi “tâm” là nhân của “tướng”, “tướng” là quả của “tâm”.

Tướng mạo của một người sẽ thay đổi theo tâm niệm của người đó. 
Về mặt khoa học, Trung y cổ đại, sinh lý học hiện đại và tâm lý học đã phân tích đạo lý “tướng do tâm sinh” rất đơn giản. Tướng mạo của một người là sự kết hợp giữa “hình”  “thần”.
Thần thái quyết định bởi quá trình tu dưỡng. Từng ý từng niệm thể hiện trong sinh hoạt thường ngày của mỗi người, qua năm tháng đều ngưng tụ trên gương mặt của họ, gọi là “những gì bên trong sẽ hiện ra bên ngoài” (hữu chư nội tất hình chư ngoại).
Tâm niệm nảy sinh sẽ tác động đến thân thể, nếu tâm bình hòa yên tĩnh, lòng thanh thản bao dung, quang minh chính đại, thì khí huyết hài hòa, ngũ tạng yên định, thân thể sẽ khỏe mạnh, nét mặt nhờ đó bình ổn, thần sắc sáng sủa, khiến người khác nhìn vào cũng cảm thấy dễ chịu, thoải mái, vì vậy mà việc giao tiếp thân thiện, vui vẻ.
Tuân Tử cho rằng: “Tướng hình không bằng tướng tâm, luận tâm không bằng luận đức”. Trong cuốn sách tướng thuật ảnh hưởng nhất thời cổ đại “Thái thanh thần giám” bàn về đức như sau: “Lấy đức làm đầu, biểu hiện trong hành động” (vi đức chi tiên, vi hành chi biểu), “Đức có trước hình, hình có sau đức” (đức tại hình tiên, hình cư đức hậu), “Bỏ ác theo thiện, trừ nạn tránh hung” (khứ ứa tùng Thiện, tiêu tai tị hung).
Từ tướng biết tâm, từ tâm biết mệnh
Khuôn mặt đẹp cũng là một loại phúc báo. Dù là phúc báo gì đều có căn nguyên của nó, giống như tài phú đến từ bố thí, tôn quý đến từ khiêm cung, khuôn mặt đẹp đến từ dịu dàng lương thiện. Đến trung niên, tướng mạo đã đi vào ổn định, cũng là thể hiện của tính cách một người.

Xinh đẹp cũng là do phúc báo, Phúc báo nào cũng đều có căn nguyên của nó. 
Tướng mạo không phải sinh ra là cố định, mà nó là phản chiếu của quá trình tu tâm và hành động lâu dài; cũng vì vậy, tướng mạo sẽ biểu lộ ra vận mệnh tương lai của một người. Nửa đời trước là ảnh hưởng từ kiếp trước, nửa đời sau, chính là tự mình. Vậy mới nói, sau khi đến trung niên, cần phải chịu trách nhiệm với hành vi của chính mình.
Người có thiện tâm, thường từ trong ra ngoài tản mát ra một loại hào quang, thần thái toát lên vẻ an hòa, tự tại khiến người gặp gỡ thấy thoải mái ngay cả khi chưa nói chuyện. Mà người ích kỷ, giảo hoạt, so đo, tất khó nhìn, thậm chí xấu xí; cho dù may mắn có khuôn mặt đẹp đẽ, người ta thường nói khuôn mặt không có duyên, càng tiếp xúc càng thấy khuôn mặt dẫu đẹp cũng không có cảm tình.
Làm việc thiện hay ác đều hiển hiện trên tướng mạo
Xưa có hai anh xem sinh đôi là Cao Hiếu Tiêu và Cao Hiếu Tích, cử chỉ lời nói và tài trí thông minh đều giống nhau như chỉ là một người. Đạo sĩ Trần Hi Di sau khi xem tướng mạo hai người, nói: “Hai người các ngươi có lông mày xanh và đôi mắt đẹp đều là người có trong danh sách đỗ đạt. Huống hồ ánh mắt các ngươi bây giờ màu sắc rực rỡ, tất sẽ đỗ đạt cao. Đến kì thi Hương, hai anh em liền cùng nhau vào Kinh Thành, sống nhờ tại nhà một người thân thích. Hàng xóm có một quả phụ trẻ tuổi xinh đẹp. Cao Hiếu Tiêu một lòng dốc lòng cầu học tâm không động. Cao Hiếu Tích không cầm lòng được, nên tư thông cùng thiếu phụ kia. Sau đó bị người khác phát giác, quả phụ xấu hổ quá nhảy sông tự vẫn.
Kỳ thi mùa thu kết thúc, Trần Hi Di nhìn hai người họ, kinh ngạc nói: “Tướng mạo hai anh em các người thay đổi rất lớn. Lông mày Hiếu Tiêu màu tím, ánh mắt sáng ngời, nhất định là đỗ cao. Mà lông mày Hiếu Tích có thay đổi, hai con ngươi phù, sống mũi ngắn mà đen, thần sắc chán nản tiều tụy, khí lạnh mà tán, đây nhất định là do làm tổn hại đạo đức mà khiến tướng mạo thay đổi. Cuộc thi này chẳng những không đậu, ngược lại có dấu hiệu chết sớm”. Sau khi yết bảng, Cao Hiếu Tích thi rớt, hậm hực mà chết. Cao Hiếu Tiêu trở thành quan lớn, thanh danh hiển hách, con cháu đông đúc.
Trần Hi Di bởi vậy cảm thán: “Nhìn ra tướng mạo một người là dễ dàng! Nhưng vận mệnh một người lại không dễ mà đoán chuẩn xác được, bởi vì mệnh là trời định, tướng do hành vi của con người tạo nênNếu có thể thuận theo Thiên ý, hòa hợp sự việc với người, ắt đời đời hưng vượng. Đây gọi là phúc hoạ vô môn, duy nhân tự triệu (phúc họa không có cửa, đều do người triệu mời)”.
Tướng do tâm sinh, cảnh tuỳ tâm chuyển
Một buổi sáng tôi đi qua công viên gần nhà và nhìn thấy những người ngồi thiền định. Sớm đầu hạ trong veo, và mặt hồ ngát hương sen, mùi hoa chớm nở và còn đẫm hơi sương khiến không gian dịu ngọt, thuần khiết. Tôi nhìn thấy một cô gái thiền định, dáng vẻ cô có gì đó tựa như loài hoa của mùa hè.

Cô gái đang tập thiền  . 
Tôi không biết bằng cách nào và vì sao cô ấy có vẻ đẹp khiến tôi xúc động như thế, nó không phải vẻ đẹp của dung nhan kiều diễm. Cô ngồi thiền định mắt nhắm khẽ. Nhưng gương mặt và cả thế ngồi toả ra ánh sáng của nội tâm, khiến cô như ngồi trong một đài sen, và chính cô lại toả ra ánh sáng của tinh thần, thứ ánh sáng mà tôi biết là không thể dùng son phấn trang điểm được.
Về sau tôi biết được rằng, lúc đó là cô đang tập một bài thiền của Phật gia, và thứ ánh sáng lạ lùng khiến tôi tĩnh lặng không thốt nên lời khi gặp cô buổi ấy là bởi cô đã không ngừng tu dưỡng bản thân theo nguyên lý Chân – Thiện – Nhẫn. Chân thành, thiện lương và dung nhẫn trong mọi hoàn cảnh, với bất kỳ ai cô gặp.
‘Người ta là hoa đất’ – Con người là tinh hoa của trời đất, tự trong sinh mệnh đã đồng hoá với đặc tính Chân Thiện Nhẫn của vũ trụ, khi sinh ra vốn đã bẩm thụ cái linh khí thuần khiết của đất trời. Người xưa dạy rằng, hành thiện có thể thay đổi số mệnh, cũng có thế thay đổi tướng mạo của mỗi người.  Bất luận phúc báo nào đều là có căn nguyên tất nhiên của nó, giống như tài phú sẽ đến từ việc năng làm từ thiện, sự tôn quý đến từ sự khiêm nhường, dung mạo xinh đẹp sẽ đến từ tính ôn hòa thuần thiện.

Bài Xem Nhiều